vanban.org

Bản án 124/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng Tuyên án 01/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên ố bị cáo Mạc Thị M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Không áp dụng hình phạt ổ sung đối v i ị cáo. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 1 6 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mạc Thị M - Bản án số 124/2022/HSST ngày 01 tháng 12 năm 2022 - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một s…"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự: Tuyên ố bị cáo Mạc Thị M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRÙNG KHÁNH
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 124/2022/HS-ST
Ngày 01 – 12 – 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÙNG KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nông Thanh Lịch

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lục Thị Tuyên

Bà Nguyễn Thị Minh Tâm

Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Thị Thu Hương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Nông Thị Thủy – Kiểm sát viên.

Ngày 1 tháng 12 năm 2 22, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 121/2022/TLST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2 22 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 125 2 22 QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2 22 đối v i ị cáo:

Mạc Thị M, tên gọi khác: không có; Sinh ngày 16 tháng 8 năm 197x tại xã P, huyện Q, tỉnh Cao Bằng; Nơi cư trú: Xóm T, xã Q, huyện T, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: trồng trọt; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Tày; Gi i tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Mạc Văn S và à Ma Thị L (đều đã chết); Chồng: Tô Quang T (đã chết); Con: Bị cáo có 1 con sinh năm 1995; Tiền sự: Không.

Tiền án: 1, Ngày 17 3 2 22 ị cáo ị Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng xử phạt 3 . . đồng về tội “Đánh ạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự tại Bản án hình sự sơ thẩm số 17 2 22 HS-ST ngày 17/03/2022, ị cáo kháng cáo, Bản án số 29 2 22 HSPT ngày 12/7/2022 Tòa án nhân dân tỉnh cao Bằng tuyên giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Bị cáo ị ắt tạm giữ từ ngày 4 6 2 22 đến ngày 10/6/2022, tạm giam từ ngày 10/6/2022 đến nay tại nhà tạm giữ Công an huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Có mặt.

Những người làm chứng:

- Đàm Đình M, sinh năm 199a. Địa chỉ: Xóm Q, xã T, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt.

- Nông Văn H, sinh năm 198b. Địa chỉ: Xóm T, xã Q, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt.

- Chung Văn C, sinh năm 198c. Địa chỉ: Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt.

- Nông Văn G, sinh năm 198d. Địa chỉ: Xóm T, xã Q, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt.

- Lương Văn D, sinh năm 197e. Địa chỉ: Xóm B, xã Q, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt.

- Lý Tâm Đ, sinh năm 199f. Địa chỉ: Xóm T, xã T, huyện V, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 9 giờ 4 phút ngày 4 tháng 6 năm 2 22, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng thực hiện nhiệm vụ khám xét khẩn cấp chỗ ở của Mạc Thị M sau khi thu thập được các tài liệu chứng cứ xác định Mạc Thị M có hành vi mua án trái phép chất ma túy. Qua khám xét người và chỗ ở thu giữ: 4 gói nhỏ được gói ằng giấy tờ lịch ên trong đều chứa chất ột màu trắng; 1 gói nhỏ được gói ằng nilong màu trắng ên trong chứa chất nhựa màu đen; Tiền Việt Nam 2. .

đồng; 1 điện thoại di động nhãn hiệu VSMART màu đen màn hình cảm ứng đã qua sử dụng, số imei 1: 35512311355759 , số imei 2: 355123113557608; 1 lưỡi dao lam trên ề mặt có ám dính chất ột màu trắng; 1 quyển lịch treo tường và 1 tờ lịch ị rách nham nhở.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trùng Khánh tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng chất ột màu trắng, chất nhựa màu đen đã thu giữa của Mạc Thị M và trích mẫu gửi giám định. Kết quả: 4 gói nhỏ được gói ằng giấy lịch ên trong có chứa chất ột màu trắng có tổng khối lượng ,55 gam; 1 gói nhỏ được gói ằng nilong màu trắng ên trong có chứa chất nhựa màu đen có khối lượng ,86 gam.

Tại Bản kết luận giám định số: 128/GĐMT ngày 2 6 2 22 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng kết luận: “Mẫu chất ột màu trắng ên trong phong ì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại: Heroine; Mẫu chất nhựa màu đen ên trong phong ì niêm phong gửi giám định là thuốc phiện”. Bị cáo nhất trí v i kết quả cân xác định khối lượng vật chứng thu giữ và Kết luận giám định.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận 4 gói chất ột màu trắng là ma túy ị cáo mua về để bán lại kiếm lời, còn chất nhựa màu đen là thuốc phiện của chồng ị cáo (đã chết) dùng để chữa ệnh. Bị cáo ắt đầu bán ma túy cách ngày ị ắt khoảng 3 – 4 năm, sau đó dừng không án nữa đến đầu năm 2 22 ị cáo m i tiếp tục án ma túy đến khi ị ắt. Bị cáo án trực tiếp cho các đối tượng nghiện ma túy hoặc các đối tượng đó gọi điện thoại trư c rồi đến đưa tiền, ị cáo ảo cho họ vị trí để ma túy. Cụ thể ị cáo đã được án cho những người sau:

Bán cho Đàm Đình M 6 lần, trong đó 2 lần mỗi lần 4 .

đồng, 4 lần mỗi lần 5 .

đồng vào khoảng tháng 4, tháng 5 năm 2 22. Mần chưa trả tiền ị cáo 2 lần số tiền 1. .

đồng.

Bán cho Nông Văn H 1 lần, trong đó 9 lần án mỗi lần 5 .000 đồng, lần cuối cùng án 1. .

đồng vào khoảng tháng 5 năm 2 22 âm lịch.

Bán cho Chung Văn C 6 lần, trong đó 2 lần án mỗi lần 4 .

đồng và 4 lần án mỗi lần 5 .

đồng vào khoảng tháng 01, tháng 02 năm 2 22, Châm chưa trả tiền cho ị cáo 2 lần số tiền 1.000.000 đồng.

Bán cho Lương Văn D 3 lần, trong đó 1 lần án 1 .

đồng, 2 lần mỗi lần án 2 .

đồng vào khoảng tháng 3 năm 2 22 nhưng Duy chưa trả tiền.

Bán cho Hoàng Thái S 1 lần 5 .

đồng, thời gian án cách ngày ị ắt khoảng 2 đến 3 ngày.

Bán cho Lý Tâm Đắc 3 lần, mỗi lần 3 .

đồng vào khoảng tháng 4, tháng 5 năm 2 22.

Bán cho Nông Văn G 1 lần 2 .

đồng. Vào uổi tối một ngày của tháng 5 năm 2 22, Lương Văn D đến mua ma túy v i M, một lúc sau Nông Văn G cũng đến mua ma túy v i M, D và G đưa tiền cho M rồi M đưa ma túy cho D trư c, đưa cho G sau.

Những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa qua công ố lời khai tại cơ quan điều tra khai như sau: Đàm Đình M và Chung Văn C đều khai được mua v i ị cáo 1 lần, mỗi lần 5 .

đồng; Lương Văn D khai được mua ma túy v i ị cáo 5 lần, trong đó 1 lần mua 5 .

đồng, 1 lần mua 1 .

đồng, 1 lần mua 2 .

đồng, 2 lần mua 4 .

đồng, lần mua 5 .

đồng D có gặp G ở đó, M đưa ma túy cho D xong đưa cho G; Nông Văn G khai được mua ma túy v i M một lần 2 .

đồng, khoảng tháng 5 năm 2 22 khi đến nhà M hỏi mua ma túy thì thấy Lương Văn D đang ở trong nhà M, M đưa ma túy cho D trư c rồi đưa cho G sau; Hoàng Thái S khai được mua ma túy v i M 1 lần 5 .

đồng; Lý Tâm Đ khai được mua ma túy v i M 6 lần, mỗi lần 3 .

đồng.

Quá trình đối chất tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khẳng định chỉ được án ma túy số lần như lời khai an đầu.

Bản Cáo trạng số 123/CT-VKSTK ngày 28/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng truy tố ị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm , c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng. Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Mạc Thị M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”,

Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 07 (Bảy) năm 6 (Sáu) tháng đến 8 (Tám) năm 6 (Sáu) tháng tù. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 1 6 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (một) phong ì thư đã được niêm phong, mặt trư c phong bì ghi: “Vật chứng vụ: Mạc Thị M – Mua bán trái phép chất ma túy, xảy ra tại T, Q, T, Cao Bằng ngày 4 6 2 22”, mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia và đóng 04 ( ốn) hình dấu mực màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Trùng Khánh, Cao Bằng ( ên trong là số ma túy, loại heroin còn lại sau khi trích mẫu gửi giám định được gói trong giấy trắng, 4 mảnh giấy lịch, 2 túi ni lông màu trắng);

+ 1 phong ì thư đã được niêm phong, mặt trư c phong bì ghi: “Vật chứng vụ: Mạc Thị M – Mua bán trái phép chất ma túy, xảy ra tại T – Q - T - Cao Bằng ngày 4 6 2 22”, mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia và đóng 04 ( ốn) hình dấu mực màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Trùng Khánh, Cao Bằng ( ên trong là 1 quyển lịch, 1 lưỡi dao lam, 1 tờ lịch một phần ị rách nham nhở);

+ 1 phong ì thư đã được niêm phong, mặt trư c phong bì ghi: “128 GĐ-KTHS Hoàn mẫu sau giám định vụ Mạc Thị M có hành vi: Mua bán trái phép chất ma túy. Bắt ngày 4 6 2 22”, mặt sau có chữ ký của Hoàng Đức Hiếu và Đàm Thanh Hương, đóng 04 ( ốn) hình dấu mực màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Cao Bằng;

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nư c 1 điện thoại di động của Mạc Thị M bên trong 1 phong ì thư đã được niêm phong, mặt trư c phong ì ghi: “Điện thoại di động tạm giữ đối v i Mạc Thị M, ngày 4 6 2 22”, mặt sau phong ì có chữ ký của Mạc Thị M, thành phần tham gia và đóng 4 ( ốn) hình dấu mực đỏ Cơ quan CSĐT – Công an huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng;

- Đối v i số tiền 2. . đồng. Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu sung vào ngân sách nhà nư c số tiền 9 0.000 đồng. Trả lại cho ị cáo Mạc Thị M số tiền 1.1 . đồng nhưng tạm giữ để đảm ảo thi hành án.

Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử uộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, đề nghị Hội đồng xét xử truy thu số tiền 9.9 . đồng ị cáo thu lợi ất chính từ việc phạm tội.

Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến tranh luận v i ản luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Trong lời nói sau cùng bị cáo iết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để ị cáo được s m trở về v i gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Điều tra viên Công an huyện Trùng Khánh; Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Đối v i những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa, trư c đó đã có lời khai tại Cơ quan điều tra về những vấn đề liên quan đến nội dung vụ án. Kiểm sát viên và bị cáo không đề nghị hoãn phiên tòa. Do vậy Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt của người làm chứng theo quy định tại khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về tội danh và tình tiết định khung hình phạt: Căn cứ lời khai của ị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp v i các vật chứng thu giữ tại Biên ản khám xét ngày 4 tháng 6 năm 2 22; Biên ản mở niêm phong xác định khối lượng vật chứng vụ án; Bản ảnh; Bản kết luận giám định; Biên ản ghi lời khai của những người làm chứng; Biên ản đối chất và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ được thu thập hợp pháp. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Ngày 4 6 2 22 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng qua khám xét khẩn cấp người và chỗ ở của ị cáo Mạc Thị M đã thu giữ ,55gam heroine mục đích ị cáo để án lại kiếm lời và ,86 gam thuốc phiện mục đích để chữa ệnh. Bị cáo đã án heroine 3 lần cho 7 người. Trong đó, có một lần ị cáo đã án ma túy cho hai người cùng một lúc. Hành vi của ị cáo đã đủ các yếu tố cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma túy" quy định tại điểm , c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Do vậy, ản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh truy tố Bị cáo ra trư c Tòa án là có có sở, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Về tính chất mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của ị cáo là rất nghiêm trọng, được thực hiện v i lỗi cố ý gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nư c về chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo iết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích kiếm lời ị cáo vẫn cố ý thực hiện. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm, tương xứng v i tính chất hành vi phạm tội của Bị cáo để giáo dục Bị cáo sau này trở thành công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo có nhân thân xấu, có 01 tiền án về tội “Đánh ạc”. Quá trình điều tra và tại phiên tòa ị cáo khai áo thành khẩn nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc iệt khó khăn nên được hưởng tính tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo đã ị kết án chưa được xóa án tích mà lại thực hiện phạm tội do cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Hình phạt bổ sung: Bị cáo làm nghề trồng trọt, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt ổ sung là hình phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự đối v i ị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 1 6 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Đối v i 01 (một) phong ì thư đã được niêm phong, mặt trư c phong bì ghi: “Vật chứng vụ: Mạc Thị M – Mua bán trái phép chất ma túy, xảy ra tại T, Q, T, Cao Bằng ngày 4 6 2 22”, mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia và đóng 04 ( ốn) hình dấu mực màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Trùng Khánh, Cao Bằng ( ên trong là số ma túy, loại heroin còn lại sau khi trích mẫu gửi giám định được gói trong giấy trắng, 4 mảnh giấy lịch, 2 túi ni long màu trắng) là chất ma túy Nhà nư c cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy;

- Đối v i 1 phong ì thư đã được niêm phong, mặt trư c phong bì ghi: “Vật chứng vụ: Mạc Thị M – Mua bán trái phép chất ma túy, xảy ra tại T - Q- T - Cao Bằng ngày 4 6 2 22”, mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia và đóng 04 ( ốn) hình dấu mực màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Trùng Khánh, Cao Bằng ( ên trong là 1 quyển lịch, 1 dao lam, 1 tờ lịch một phần ị rách nham nhở) là vật chứng vụ án không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy;

- 1 phong ì thư đã được niêm phong, mặt trư c phong bì ghi: “128 GĐ-KTHS Hoàn mẫu sau giám định vụ Mạc Thị M có hành vi: Mua bán trái phép chất ma túy. Bắt ngày 4 6 2 22”, mặt sau có chữ ký của Hoàng Đức Hiếu và Đàm Thanh Hương, đóng 04 ( ốn) hình dấu mực màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Cao Bằng là chất ma túy Nhà nư c cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy;

- Đối v i 1 phong ì thư đã được niêm phong, mặt trư c phong ì ghi: “Điện thoại di động tạm giữ đối v i Mạc Thị M, ngày 4 6 2 22”, mặt sau phong ì có chữ ký của Mạc Thị M, thành phần tham gia và đóng 4 ( ốn) hình dấu mực đỏ Cơ quan CSĐT – Công an huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định ị cáo đã sử dụng để liên lạc mua án ma túy cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nư c.

- Đối v i số tiền 2. . đồng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định được ị cáo thu lợi ất chính từ việc phạm tội số tiền 9 . đồng nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nư c. Còn lại số tiền 1.1 . đồng không liên quan đến hành vi phạm tội, trả lại cho ị cáo nhưng cần tạm giữ để đảm ảo thi hành án.

Các vấn đề khác:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã xác định được ị cáo Mạc Thị M đã án ma túy 3 lần cho 7 người, số tiền thu lợi ất chính là 13.2 . đồng trừ đi số tiền 2.4 . đồng trên thực tế các đối tượng nghiện chưa trả cho ị cáo và số tiền 9 . đồng thu giữ khi khám xét chỗ ở, cần truy thu nộp vào ngân sách Nhà nư c số tiền 9.900. đồng.

Đối v i số thuốc phiện ,86 gam thu giữ được khi khám xét khẩn cấp chỗ ở là thuốc phiện ị cáo khai tàng trữ mục đích để chữa ệnh. Xét thấy 0,86 gam thuốc phiện không đủ khối lượng để xử lý trách nhiệm hình sự, ngày 07/9/2022 Công an huyện Trùng Khánh xử phạt phạm hành chính đối v i ị cáo về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng quy định.

Về các đối tượng nghiện ma túy Đàm Đình M, Nông Văn H, Chung Văn C, Nông Văn G, Lương Văn D, Hoàng Thái S, Lý Tâm Đ đã mua ma túy v i ị cáo để sử dụng, hành vi không cấu thành tội phạm. Tuy nhiên, căn cứ khoản 1 Điều 21 Nghị định số: 167 2 13 NĐ-CP ngày 12 11 2 13 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng chống tệ nạn xã hội; phòng cháy chữa cháy; phòng, chống ạo lực gia đình. Công an huyện Trùng Khánh cần xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” đối v i các đối tượng trên để đảm ảo phòng ngừa chung.

Về những người đàn ông án ma túy cho ị cáo, do không xác minh được nhân thân, lai lịch cụ thể nên Hội đồng xét xử không đủ căn cứ để xử lý. Cơ quan điều tra cần tiếp tục điều tra, xác minh và xử lý theo quy định pháp luật khi có đủ căn cứ.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.

Xét các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở và phù hợp v i nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên ố bị cáo Mạc Thị M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt ị cáo Mạc Thị M 08 (Tám) năm 6 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/6/2022.

Không áp dụng hình phạt ổ sung đối v i ị cáo.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 1 6 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy:

- 1 (một) phong ì thư đã được niêm phong, mặt trư c phong ì ghi: “Vật chứng vụ: Mạc Thị M – Mua án trái phép chất ma túy, xảy ra tại T, Q, T, Cao Bằng ngày 4 6 2 22”, mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia và đóng 4 ( ốn) hình dấu mực màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Trùng Khánh, Cao Bằng ( ên trong là số ma túy, loại heroine còn lại sau khi trích mẫu gửi giám định được gói trong giấy trắng, 4 mảnh giấy lịch, 2 túi ni long màu trắng);

- 1 phong ì thư đã được niêm phong, mặt trư c phong ì ghi: “Vật chứng vụ: Mạc Thị M – Mua bán trái phép chất ma túy, xảy ra tại T - Q- T - Cao Bằng ngày 4 6 2 22”, mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia và đóng 4 ( ốn) hình dấu mực màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Trùng Khánh, Cao Bằng ( ên trong là 1 quyển lịch treo tường, 01 lưỡi dao lam và 1 tờ lịch một phần ị rách nham nhở);

- 1 phong ì thư đã được niêm phong, mặt trư c phong bì ghi: “128 GĐ-KTHS Hoàn mẫu sau giám định vụ Mạc Thị M có hành vi: Mua bán trái phép chất ma túy. Bắt ngày 4 6 2 22”, mặt sau có chữ ký của Hoàng Đức Hiếu và Đàm Thanh Hương, đóng 04 ( ốn) hình dấu mực màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Cao Bằng;

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nư c 1 điện thoại di động của Mạc Thị M ên trong 1 phong ì thư đã được niêm phong, mặt trư c phong ì ghi: “Điện thoại di động tạm giữ đối v i Mạc Thị M, ngày 4 6 2 22”, mặt sau phong ì có chữ ký của Mạc Thị M, thành phần tham gia và đóng 4 ( ốn) hình dấu mực đỏ Cơ quan CSĐT – Công an huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng.

Đối v i số tiền 2. . đồng. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nư c số tiền 9 . đồng, Trả lại cho ị cáo Mạc Thị M số tiền 1.1 . đồng nhưng tạm giữ để đảm ảo thi hành án.

(Xác nhận toàn bộ vật chứng đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trùng Khánh theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/10/2022).

3. Truy thu nộp ngân sách Nhà nư c số tiền ị cáo thu lợi ất chính từ hành vi phạm tội 9.9 . đồng.

4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ