- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự Mạc Thị M phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy". - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung m…"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Mạc Thị M phạm tội “Mua bán
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÙNG KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 124/2022/HS-ST |
HUYỆN TRÙNG KHÁNH Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Ngày 01 – 12 – 2022
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÙNG KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nông Thanh Lịch Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lục Thị Tuyên Bà Nguyễn Thị Minh Tâm Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Thị Thu Hương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Nông Thị Thủy – Kiểm sát viên. Ngày 01 tháng 12 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 121/2022/TLST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 125/2022/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo: Mạc Thị M, tên gọi khác: không có; Sinh ngày 16 tháng 8 năm 1973 tại xã P, huyện Q, tỉnh Cao Bằng; Nơi cư trú: Xóm T, xã Q, huyện T, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: trồng trọt; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Mạc Văn S và bà Ma Thị L (đều đã chết); Chồng: Tô Quang T (đã chết); Con: Bị cáo có 01 con sinh năm 1995; Tiền sự: Không. Tiền án: 01, Ngày 17/03/2022 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Cao Bằng xử phạt 30.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự tại Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2022/HS-ST ngày 17/03/2022, bị cáo kháng cáo, Bản án số 29/2022/HSPT ngày 12/7/2022 Tòa án nhân dân tỉnh cao Bằng tuyên giữ nguyên Bản án sơ thẩm. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 04/6/2022 đến ngày 10/6/2022, tạm giam từ ngày 10/6/2022 đến nay tại nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Cao Bằng. Có mặt. Những người làm chứng: - Đàm Đình M, sinh năm 1995. Địa chỉ: Xóm Q, xã T, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt.
- Nông Văn H, sinh năm 1989. Địa chỉ: Xóm T, xã Q, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt. - Chung Văn C, sinh năm 1988. Địa chỉ: Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt. - Nông Văn G, sinh năm 1985. Đìa chỉ: Xóm T, xã Q, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt. - Lương Văn D, sinh năm 1974. Địa chỉ: Xóm B, xã Q, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt. - Lý Tâm Đ, sinh năm 1992. Địa chỉ: Xóm T, xã T, huyện V, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 09 giờ 40 phút ngày 04 tháng 6 năm 2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng thực hiện nhiệm vụ khám xét khẩn cấp chỗ ở của Mạc Thị M sau khi thu thập được các tài liệu chứng cứ xác định Mạc Thị M có hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Qua khám xét người và chỗ ở thu giữ: 04 gói nhỏ được gói bằng giấy tờ lịch bên trong đều chứa chất bột màu trắng; 01 gói nhỏ được gói bằng nilong màu trắng bên trong chứa chất nhựa màu đen; Tiền Việt Nam 2.000.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu VSMART màu đen màn hình cảm ứng đã qua sử dụng, số imei 1: 355123113557590, số imei 2: 355123113557608; 01 lưỡi dao lam trên bề mặt có bám dính chất bột màu trắng; 01 quyển lịch treo tường và 01 tờ lịch bị rách nham nhở. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trùng Khánh tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng chất bột màu trắng, chất nhựa màu đen đã thu giữa của Mạc Thị M và trích mẫu gửi giám định. Kết quả: 04 gói nhỏ được gói bằng giấy lịch bên trong có chứa chất bột màu trắng có tổng khối lượng 0,55 gam; 01 gói nhỏ được gói bằng nilong màu trắng bên trong có chứa chất nhựa màu đen có khối lượng 0,86 gam. Tại Bản kết luận giám định số: 128/GĐMT ngày 20/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng kết luận: “Mẫu chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại: Heroine; Mẫu chất nhựa màu đen bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là thuốc phiện”. Bị cáo nhất trí với kết quả cân xác định khối lượng vật chứng thu giữ và Kết luận giám định. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận 04 gói chất bột màu trắng là ma túy bị cáo mua về để bán lại kiếm lời, còn chất nhựa màu đen là thuốc phiện của chồng bị cáo (đã chết) dùng để chữa bệnh. Bị cáo bắt đầu bán
ma túy cách ngày bị bắt khoảng 3 – 4 năm, sau đó dừng không bán nữa đến đầu năm 2022 bị cáo mới tiếp tục bán ma túy đến khi bị bắt. Bị cáo bán trực tiếp cho các đối tượng nghiện ma túy hoặc các đối tượng đó gọi điện thoại trước rồi đến đưa tiền, bị cáo bảo cho họ vị trí để ma túy. Cụ thể bị cáo đã được bán cho những người sau: Bán cho Đàm Đình M 06 lần, trong đó 02 lần mỗi lần 400.000 đồng, 04 lần mỗi lần 500.000 đồng vào khoảng tháng 4, tháng 5 năm 2022. M chưa trả tiền bị cáo 02 lần số tiền 1.000.000 đồng. Bán cho Nông Văn H 10 lần, trong đó 09 lần bán mỗi lần 500.000 đồng, lần cuối cùng bán 1.000.000 đồng vào khoảng tháng 5 năm 2022 âm lịch. Bán cho Chung Văn C 06 lần, trong đó 02 lần bán mỗi lần 400.000 đồng và 04 lần bán mỗi lần 500.000 đồng vào khoảng tháng 01, tháng 02 năm 2022, C chưa trả tiền cho bị cáo 02 lần số tiền 1.000.000 đồng. Bán cho Lương Văn D 03 lần, trong đó 01 lần bán 100.000 đồng, 02 lần mỗi lần bán 200.000 đồng vào khoảng tháng 3 năm 2022 nhưng D chưa trả tiền. Bán cho Hoàng Thái S 01 lần 500.000 đồng, thời gian bán cách ngày bị bắt khoảng 2 đến 3 ngày. Bán cho Lý Tâm Đ 03 lần, mỗi lần 300.000 đồng vào khoảng tháng 4, tháng 5 năm 2022. Bán cho Nông Văn G 01 lần 200.000 đồng. Vào buổi tối một ngày của tháng 5 năm 2022, Lương Văn D đến mua ma túy với M, một lúc sau Nông Văn G cũng đến mua ma túy với M, D và G đưa tiền cho M rồi M đưa ma túy cho D trước, đưa cho G sau. Những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa qua công bố lời khai tại cơ quan điều tra khai như sau: Đàm Đình M và Chung Văn C đều khai được mua với bị cáo 10 lần, mỗi lần 500.000 đồng; Lương Văn D khai được mua ma túy với bị cáo 05 lần, trong đó 01 lần mua 500.000 đồng, 01 lần mua 100.000 đồng, 01 lần mua 200.000 đồng, 02 lần mua 400.000 đồng, lần mua 500.000 đồng D có gặp G ở đó, M đưa ma túy cho D xong đưa cho G; Nông Văn G khai được mua ma túy với M một lần 200.000 đồng, khoảng tháng 5 năm 2022 khi đến nhà M hỏi mua ma túy thì thấy Lương Văn D đang ở trong nhà M, M đưa ma túy cho D trước rồi đưa cho G sau; Hoàng Thái S khai được mua ma túy với M 01 lần 500.000 đồng; Lý Tâm Đ khai được mua ma túy với M 06 lần, mỗi lần 300.000 đồng. Quá trình đối chất tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khẳng định chỉ được bán ma túy số lần như lời khai ban đầu. Bản Cáo trạng số 123/CT-VKSTK ngày 28/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng. Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Mạc Thị M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 07 (Bảy) năm 6 (Sáu) tháng đến 8 (Tám) năm 6 (Sáu) tháng tù. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung. Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: - Tịch thu tiêu hủy: + 01 (một) phong bì thư đã được niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng vụ: Mạc Thị M – Mua bán trái phép chất ma túy, xảy ra tại xóm T, xã Q, huyện T, Cao Bằng ngày 04/6/2022”, mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia và đóng 04 (bốn) hình dấu mực màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Trùng Khánh, Cao Bằng (bên trong là số ma túy, loại heroin còn lại sau khi trích mẫu gửi giám định được gói trong giấy trắng, 04 mảnh giấy lịch, 02 túi ni lông màu trắng); + 01 phong bì thư đã được niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng vụ: Mạc Thị M – Mua bán trái phép chất ma túy, xảy ra tại xóm T, xã Q, huyện T, Cao Bằng ngày 04/6/2022”, mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia và đóng 04 (bốn) hình dấu mực màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Trùng Khánh, Cao Bằng (bên trong là 01 quyển lịch, 01 lưỡi dao lam, 01 tờ lịch một phần bị rách nham nhở); + 01 phong bì thư đã được niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “128/GĐ- KTHS Hoàn mẫu sau giám định vụ Mạc Thị M có hành vi: Mua bán trái phép chất ma túy. Bắt ngày 04/6/2022”, mặt sau có chữ ký của Hoàng Đức H và Đàm Thanh H, đóng 04 (bốn) hình dấu mực màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Cao Bằng; - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động của Mạc Thị M bên trong 01 phong bì thư đã được niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “Điện thoại di động tạm giữ đối với Mạc Thị M, ngày 04/6/2022”, mặt sau phong bì có chữ ký của Mạc Thị M, thành phần tham gia và đóng 04 (bốn) hình dấu mực đỏ Cơ quan CSĐT – Công an huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng; - Đối với số tiền 2.000.000 đồng. Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 900.000 đồng. Trả lại cho bị cáo Mạc Thị M số tiền 1.100.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, đề nghị Hội đồng xét xử truy thu số tiền 9.900.000 đồng bị cáo
thu lợi bất chính từ việc phạm tội. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Trong lời nói sau cùng bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo được sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Điều tra viên Công an huyện Trùng Khánh; Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đều hợp pháp. Đối với những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa, trước đó đã có lời khai tại Cơ quan điều tra về những vấn đề liên quan đến nội dung vụ án. Kiểm sát viên và bị cáo không đề nghị hoãn phiên tòa. Do vậy Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt của người làm chứng theo quy định tại khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự. [2] Về tội danh và tình tiết định khung hình phạt: Căn cứ lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với các vật chứng thu giữ tại Biên bản khám xét ngày 04 tháng 6 năm 2022; Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng vật chứng vụ án; Bản ảnh; Bản kết luận giám định; Biên bản ghi lời khai của những người làm chứng; Biên bản đối chất và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ được thu thập hợp pháp. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Ngày 04/6/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng qua khám xét khẩn cấp người và chỗ ở của bị cáo Mạc Thị M đã thu giữ 0,55gam heroine mục đích bị cáo để bán lại kiếm lời và 0,86 gam thuốc phiện mục đích để chữa bệnh. Bị cáo đã bán heroine 30 lần cho 07 người. Trong đó, có một lần bị cáo đã bán ma túy cho hai người cùng một lúc. Hành vi của bị cáo đã đủ các yếu tố cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma túy" quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Do vậy, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh truy tố Bị cáo ra trước Tòa án là có có sở, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật. [3] Về tính chất mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, được thực hiện với lỗi cố ý gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị
an tại địa phương. Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích kiếm lời bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của Bị cáo để giáo dục Bị cáo sau này trở thành công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa chung. [4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân xấu, có 01 tiền án về tội “Đánh bạc”. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được hưởng tính tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo đã bị kết án chưa được xóa án tích mà lại thực hiện phạm tội do cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. [5] Hình phạt bổ sung: Bị cáo làm nghề trồng trọt, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự đối với bị cáo. [6] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. - Đối với 01 (một) phong bì thư đã được niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng vụ: Mạc Thị M – Mua bán trái phép chất ma túy, xảy ra tại xóm T, xã Q, huyện T, Cao Bằng ngày 04/6/2022”, mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia và đóng 04 (bốn) hình dấu mực màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Trùng Khánh, Cao Bằng (bên trong là số ma túy, loại heroin còn lại sau khi trích mẫu gửi giám định được gói trong giấy trắng, 04 mảnh giấy lịch, 02 túi ni long màu trắng) là chất ma túy Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy; - Đối với 01 phong bì thư đã được niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng vụ: Mạc Thị M – Mua bán trái phép chất ma túy, xảy ra tại xóm T, xã Q, huyện T, Cao Bằng ngày 04/6/2022”, mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia và đóng 04 (bốn) hình dấu mực màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Trùng Khánh, Cao Bằng (bên trong là 01 quyển lịch, 01 dao lam, 01 tờ lịch một phần bị rách nham nhở) là vật chứng vụ án không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy; - 01 phong bì thư đã được niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “128/GĐ- KTHS Hoàn mẫu sau giám định vụ Mạc Thị M có hành vi: Mua bán trái phép chất ma túy. Bắt ngày 04/6/2022”, mặt sau có chữ ký của Hoàng Đức H và Đàm Thanh H, đóng 04 (bốn) hình dấu mực màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Cao Bằng là chất ma túy Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy; - Đối với 01 phong bì thư đã được niêm phong, mặt trước phong bì ghi:
“Điện thoại di động tạm giữ đối với Mạc Thị M, ngày 04/6/2022”, mặt sau phong bì có chữ ký của Mạc Thị M, thành phần tham gia và đóng 04 (bốn) hình dấu mực đỏ Cơ quan CSĐT – Công an huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định bị cáo đã sử dụng để liên lạc mua bán ma túy cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. - Đối với số tiền 2.000.000 đồng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định được bị cáo thu lợi bất chính từ việc phạm tội số tiền 900.000 đồng nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Còn lại số tiền 1.100.000 đồng không liên quan đến hành vi phạm tội, trả lại cho bị cáo nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án. [7] Các vấn đề khác: Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã xác định được bị cáo Mạc Thị M đã bán ma túy 30 lần cho 07 người, số tiền thu lợi bất chính là 13.200.000 đồng trừ đi số tiền 2.400.000 đồng trên thực tế các đối tượng nghiện chưa trả cho bị cáo và số tiền 900.000 đồng thu giữ khi khám xét chỗ ở, cần truy thu nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 9.900.000 đồng. Đối với số thuốc phiện 0,86 gam thu giữ được khi khám xét khẩn cấp chỗ ở là thuốc phiện bị cáo khai tàng trữ mục đích để chữa bệnh. Xét thấy 0,86 gam thuốc phiện không đủ khối lượng để xử lý trách nhiệm hình sự, ngày 07/9/2022 Công an huyện Trùng Khánh xử phạt phạm hành chính đối với bị cáo về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng quy định. Về các đối tượng nghiện ma túy Đàm Đình M, Nông Văn H, Chung Văn C, Nông Văn G, Lương Văn D, Hoàng Thái S, Lý Tâm Đ đã mua ma túy với bị cáo để sử dụng, hành vi không cấu thành tội phạm. Tuy nhiên, căn cứ khoản 1 Điều 21 Nghị định số: 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng chống tệ nạn xã hội; phòng cháy chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình. Công an huyện Trùng Khánh cần xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” đối với các đối tượng trên để đảm bảo phòng ngừa chung. Về những người đàn ông bán ma túy cho bị cáo, do không xác minh được nhân thân, lai lịch cụ thể nên Hội đồng xét xử không đủ căn cứ để xử lý. Cơ quan điều tra cần tiếp tục điều tra, xác minh và xử lý theo quy định pháp luật khi có đủ căn cứ. [8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. [9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật. [10] Xét các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Mạc Thị M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Mạc Thị M 08 (Tám) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/6/2022. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. 2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: - 01 (một) phong bì thư đã được niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng vụ: Mạc Thị M – Mua bán trái phép chất ma túy, xảy ra tại xóm T, xã Q, huyện T, Cao Bằng ngày 04/6/2022”, mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia và đóng 04 (bốn) hình dấu mực màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Trùng Khánh, Cao Bằng (bên trong là số ma túy, loại heroine còn lại sau khi trích mẫu gửi giám định được gói trong giấy trắng, 04 mảnh giấy lịch, 02 túi ni long màu trắng); - 01 phong bì thư đã được niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng vụ: Mạc Thị M – Mua bán trái phép chất ma túy, xảy ra tại xóm T, xã Q, huyện T, Cao Bằng ngày 04/6/2022”, mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia và đóng 04 (bốn) hình dấu mực màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Trùng Khánh, Cao Bằng (bên trong là 01 quyển lịch treo tường, 01 lưỡi dao lam và 01 tờ lịch một phần bị rách nham nhở); - 01 phong bì thư đã được niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “128/GĐ- KTHS Hoàn mẫu sau giám định vụ Mạc Thị M có hành vi: Mua bán trái phép chất ma túy. Bắt ngày 04/6/2022”, mặt sau có chữ ký của Hoàng Đức H và Đàm Thanh H, đóng 04 (bốn) hình dấu mực màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Cao Bằng; Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động của Mạc Thị M bên trong 01 phong bì thư đã được niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “Điện thoại di động tạm giữ đối với Mạc Thị M, ngày 04/6/2022”, mặt sau phong bì có chữ ký của Mạc Thị M, thành phần tham gia và đóng 04 (bốn) hình dấu mực đỏ Cơ quan CSĐT – Công an huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Đối với số tiền 2.000.000 đồng. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 900.000 đồng, Trả lại cho bị cáo Mạc Thị M số tiền 1.100.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án. (Xác nhận toàn bộ vật chứng đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện T theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/10/2022). 3. Truy thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền bị cáo thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội 9.900.000 đồng. 4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng. 5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: - Sở tư pháp; - TAND tỉnh Cao Bằng; - VKSND tỉnh Cao Bằng; - VKSND huyện T; - Công an huyện T; - Chi cục THADS huyện T; - UBND xã Q; - Bị cáo; - Lưu HSVA, HSTHA. Nông Thanh Lịch | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |