- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê văn t bị VKS kháng nghị tăng nặng hình phạt - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 43/2022/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2022 của Toà án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 124/2022/HS-PT Ngày: 23 - 11 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Từ Thị Hải Dương
Các Thẩm phán: Ông Dương Viết Hải và Ông Võ Bá Lưu
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Bá Tuấn Linh -Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 11 năm 2022, tại phòng xét xử hình sự Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 113/2022/TLPT-HS ngày 04 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo Nguyễn Văn T do có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 43/2022/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.
Bị cáo bị kháng nghị: Nguyễn Văn T, sinh ngày 10/01/1989 tại huyện L, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Ph và bà Phan Thị L; vợ, con: chưa có.
Nhân thân: Ngày 24/10/2008, Nguyễn Văn T bị Tòa án nhân dân huyện Dĩ An (nay là thành phố Dĩ An), tỉnh Bình Dương xử phạt 05 năm 06 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích; Ngày 11/5/2012, Nguyễn Văn T chấp hành xong hình phạt trở về địa phương và đã chấp hành xong phần án phí hình sự và án phí dân sự. Phần bồi thường dân sự, Chi cục thi hành án dân sự huyện Lệ Thủy không nhận được yêu cầu thi hành án nên Nguyễn Văn T chưa thi hành.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/6/2022 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Trong vụ án còn có những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan nhưng không liên quan đến kháng nghị nên Toà án không triệu tập tham gia phiên toà phúc thẩm.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 13/6/2022, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy Công an huyện L phối hợp với Công an xã D tuần tra kiểm soát trên địa bàn xã D, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Khi đến địa phận thôn T, xã D phát hiện Nguyễn Văn T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA SH, biển kiểm soát 73H1-558.19 có biểu hiện nghi vấn, tổ công tác yêu cầu dừng xe kiểm tra, thì T vứt gói nilon màu xanh đang cầm trên tay xuống đường. Tổ công tác tiến hành kiểm tra, thấy bên trong túi nilon chứa 07 viên nén màu hồng, dạng thuốc tân dược hình tròn, trên một mặt mỗi viên nén đều có ký hiệu “WY”. Nguyễn Văn T khai 07 viên nén trên là ma túy tổng hợp, Tiến đi mua về để sử dụng nhưng chưa sử dụng thì bị lực lượng Công an phát hiện, do sợ bị bắt nên T đã vứt gói ma túy xuống nền đất. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ niêm phong 07 viên nén nói trên.
Tại Kết luận giám định số 689/KL-KTHS ngày 17/6/2022, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình kết luận: Mẫu ký hiệu A: 07 viên nén hình tròn dạng thuốc tân dược màu hồng trên một mặt mỗi viên nén có in chữ “WY” gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,679g (không phẩy sáu trăm bảy mươi chín gam). Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, số thứ tự 323, Danh mục II, Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.
Tại bản án số 43/2022/HS-ST ngày 27/9/2022 của Toà án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình quyết định tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm a khoản 1, Điều 46, các điểm a, c khoản 1 và khoản 2 điều 47 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 14/6/2022.
Ngoài ra bản án còn quyết định xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 26/10/2022, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình có Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 2426/QĐ-VKSQB đối với bản án số 43/2022/HS-ST ngày 27/9/2022 của Toà án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình đối với bị cáo Nguyễn Văn T, yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm theo hướng sửa bản án sơ thẩm xác định lại tiền án và tăng hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn T.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo trình bày sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, gia đình bị cáo đã gặp người bị hại để bồi thường dân sự nhưng người bị hại cho bị cáo không phải bồi thường, hiện tại giấy xác nhận của bị hại bị thất lạc, người bị hại chuyển nơi cứ trú nên bị cáo không có chứng cứ gì về vấn để bồi thường, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình giữ nguyên nội dung kháng nghị, đề nghị xác định bị cáo có tiền án theo hướng dẫn của Công văn 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019 của Tòa án nhân dân tối cao và đề nghị Tòa án sửa án sơ thẩm, tăng nặng hình phạt đối với bị cáo từ 3 đến 6 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tội danh: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn T khai đã mua 07 viên nén là ma túy tổng hợp để sử dụng, được giám định là chất ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,679g. Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, số thứ tự 323, Danh mục II, Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Tòa cấp sơ thẩm xét xử và kết tội bị cáo theo điều khoản viện dẫn ở trên là đúng người đúng tội, đúng pháp luật.
. Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình về xác định lại tiền án và tăng hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn T, Hội đồng xét xử thấy:
. Về xác định tiền án đối với bị cáo T: Năm 2008, bị cáo Nguyễn Văn T đã bị Tòa án nhân dân huyện Dĩ An (nay là thành phố Dĩ An), tỉnh Bình Dương xử phạt 05 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” tại Bản án số 247/2008/HSST ngày 24/10/2008. Ngày 11/5/2012, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, đã thi hành án phí hình sự và dân sự, phần bồi thường dân sự chưa thi hành xong. Tại mục 7 Công văn 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019 của Tòa án nhân dân tối cao thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc về hình sự, dân sự và tố tụng hành chính hướng dẫn Điều 70 của Bộ luật Hình sự quy định về các điều kiện đương nhiên được xóa án tích, trong đó có điều kiện: “người bị kết án nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách của án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án.... trường hợp người bị kết án (sau này là bị can, bị cáo trong một vụ án mới) không nhận được thông báo và quyết định thi hành án của Cơ quan thi hành án dân sự nên chưa thi hành hình phạt bổ sung, chưa nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm và các quyết định khác của bản án là chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án. Trong trường hợp này, người bị kết án không đương nhiên được xóa án tích theo quy định tại Điều 70 của Bộ luật Hình sự”. Như vậy, bị cáo Nguyễn Văn T không đương nhiên được xóa án tích theo quy định tại Điều 70 của Bộ luật Hình sự. Do đó, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình xem xét lại tiền án đối với bị cáo Nguyễn Văn T là có căn cứ.
. Về kháng nghị tăng nặng hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn T, Hội đồng xét xử xét thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội và đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo xử phạt bị cáo 12 tháng tù là thỏa đáng. Tuy nhiên, theo nhận định ở trên, bị cáo có một tiền án chưa được cấp sơ thẩm áp dụng, vì vậy có căn cứ để chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình, cần tăng hình phạt đối với bị cáo.
. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm a khoản 2 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;
1. Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 43/2022/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2022 của Toà án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 18 (mười tám) tháng tù về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy", thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam, ngày 14/6/2022
2. Về án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo Nguyễn Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án (23/11/2022).
| Nơi nhận - Vụ giám đốc kiểm tra 1 TANDTC; - VKSND tỉnh Quảng Bình; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình; - TAND huyện Lệ Thủy; - Công an huyện Lệ Thủy; - Chi cục THADS huyện Lệ Thủy; - Bị cáo; - Lưu Tòa HS; HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Từ Thị Hải Dương |