- Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đặng Xuân V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 124/2021/HSST. Ngày: 29/12/2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Mỹ Lệ
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đinh Văn Thông
2. Bà Nguyễn Thúy Phượng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện VKS nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai, tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 29/12/2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 109/2021/HSST ngày 13/10/2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 129/2021/QĐXX ST-HS ngày 06/12/2021 đối với bị cáo:
Đặng Xuân V; Tên gọi khác: không; Sinh năm: 1997 tại Đồng Nai. Nơi cư trú: ấp X, xã Y, huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 9/12. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không. Con ông Đặng Văn Th, sinh năm 1962 và bà Đỗ Thị Th, sinh năm: 1971. Vợ, con: chưa có. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo V bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 18/6/2021, đến ngày 27/6/2021 bị áp dụng biện pháp tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng:
1. Ông Trần Th, sinh năm 1966. Nơi cư trú: Ấp X, xã Y, thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)
2. Chị Lê Cao Thị Thanh T, sinh năm 1980. Nơi cư trú: Khu phố X, phường Y, thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)
3. Ông Trần Văn S, sinh năm 1958. Nơi cư trú: Khu phố X, phường Y, thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 7 giờ ngày 18/6/2021, V điều khiển xe máy hiệu Wave, biển số 60B2 – 78444 đi đến quán cà phê của chị Lê Cao Thị Thanh T, sinh năm 1980, tại khu vực ngã ba Tân Phong thuộc khu phố Tân Phong, phường Xuân Tân, thành phố Long Khánh thì gặp Ph (là bạn quen biết ngoài xã hội, không rõ nhân thân, lai lịch). Trong lúc cả hai ngồi uống cà phê, Ph cho V 05 tép heroin, V cất giấu trong người để sử dụng dần. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, V điều khiển xe mô tô trên đến khu vực lô cao su thuộc ấp Tân Phong, xã Hàng Gòn, thành phố Long Khánh định sử dụng ma túy thì bị Công an xã Hàng Gòn và Công an thành phố Long Khánh phát hiện bắt quả tang, thu giữ trên tay V 03 tép heroin, 02 tép heroin trong túi quần V đang mặc.
Vật chứng thu giữ: 05 tép heroin được niêm phong trong 01 phong bì có chữ ký xác nhận của Đặng Xuân V ở mép dán; 01 xe mô tô hiệu Wave màu trắng, biển số 60B2 – 78444.
Tại bản kết luận giám định số 1320/KLGĐ-PC09, ngày 23/6/2021, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận: Mẫu chất bột màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,5127 gam, loại: Heroin.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định số 1320/KLGĐ- PC09 ngày 23/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai.
Tại bản Cáo trạng số 107/CT-VKSLK ngày 12/10/2021 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Đặng Xuân V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: p dụng điểm c khoản 1 Điều 249 và Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Đặng Xuân V từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù; Đề nghị tịch thu tiêu hủy vật chứng là mua túy.
Những người tham gia tố tụng đồng ý đối với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm quay về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo V khai nhận do nghiện ma túy nên khi được Ph cho ma túy thì V đã nhận và cất giấu với mục đích sử dụng cho bản thân. Lời khai của bị cáo phù hợp với nội dung các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập trong hồ sơ vụ án.
Tại biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 18/6/2021 của Công an xã Hàng Gòn lập đã thu giữ trong túi quần của V đang mặc và trên tay V 05 đoạn ống nhựa hàn kín hai đầu bên trong có chứa chất bột màu trắng, qua giám định là ma túy loại Heroin có khối lượng 0,5127 gam. Như vậy đã có đủ cơ sở khẳng định bị cáo V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
[3] Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội: bị cáo là công dân có đủ nhận thức và năng lực, dù biết ma túy là vật bị nhà nước nghiêm cấm tàng trữ trái phép nhưng vẫn cố tình thực hiện nhằm sử dụng thỏa mãn cơn nghiện cho bản thân. Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cao cho xã hội vì vậy cần áp dụng mức hình phạt tù nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
[5] Về xử lý vật chứng:
- Đối với ma túy còn lại sau giám định trong phong bì niêm phong số 1320/KLGĐ-PC09 là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
- Xe mô tô hiệu Wave màu trắng, biển số 60B2 – 78444 là tài sản của ông Trần Văn S, ông S không biết V sử dụng xe vào việc phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Long Khánh trả lại cho ông S là phù hợp.
- Đối với người thanh niên tên Ph hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan cảnh sát điều tra xác minh, nếu phát hiện sẽ xử lý sau là phù hợp.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Đặng Xuân V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- p dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017
Xử phạt: Bị cáo Đặng Xuân V 01 (Một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 18 tháng 6 năm 2021.
- p dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy một phong bì niêm phong ký hiệu số 1320/KLGĐ-PC09 (Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 12/10/2021 tại Chi cục thi hành án Long Khánh).
- p dụng nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Đặng Xuân V phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - Công an TP. Long Khánh; - VKSND TP. Long Khánh; - Thi hành án TP. Long Khánh; - Bị cáo; - Hồ sơ thi hành án; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu án văn ; - Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trƣơng Thị Mỹ Lệ |