- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Quang Đông phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Quang Đ phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 124/2021/HS-ST Ngày 17/12/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Hiểu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Quang Minh.
Bà Nguyễn Thị Vân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Dũng, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Đức, Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 121/2021/TLST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 99/2021/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2021, Quyết định Hoãn phiên tòa số: 11/2021/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:
1. TRẦN QUANG Đ, sinh năm 1974; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện tại: Số 55/14 L, phường L, thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Trần Quang Đ (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị Hòa T, sinh năm 1952; Vợ: Tạ Thị Huyền (đã ly hôn) con: Có 01 con sinh năm 2004. Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
- Ngày 26/10/2005 bị Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây xử phạt 12 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản” (Đã xóa án tích);
- Ngày 15/6/2007 bị Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản” (Đã xóa án tích);
- Ngày 12/5/2016 bị Công an huyện Ba Vì, TP. Hà Nội xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi Trộm cắp tài sản”;
Ngày 09/9/2019 bị Công an huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi Trộm cắp tài sản”;
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/8/2021. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số I – Công an TP. Hà Nội. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Quang Đ là đối tượng nghiện chất ma túy. Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 30 tháng 8 năm 2021, Đ đi bộ đến ngã tư Cổng Ô thuộc phường Viên Sơn, thị xã Sơn Tây thuê một người lái xe ôm chở vào ngã tư Bệnh viện Quân Y 105 thuộc phường Sơn Lộc, thị xã Sơn Tây để tìm mua ma túy. Khi tới trước cổng Bệnh viện Quân Y 105, Đ xuống trả tiền xe ôm rồi đi bộ đến khu vực vườn hoa gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy với giá 300.000đ. Sau đó, Đ cầm gói ma túy ở tay phải rồi đi đến khu vực đầu ngõ 01, phố Chùa Thông, phường Sơn Lộc, thị xã Sơn Tây thì bị Công an thị xã Sơn Tây bắt giữ. Vật chứng thu giữ gồm: Thu tại tay phải của Đ 01(Một) gói ni lông trong suốt, kích thước 1,5x1,5cm viền xanh, bên trong chứa tinh thể màu trắng (Đ khai đó là ma túy vừa mua về để sử dụng).
Tại bản kết luận giám định số: 6622/KLGĐ-PC09 ngày 07/9/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội đã kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 01 gói ni lông là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,271gam.
Quá trình điều tra Đ đã khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình. Tuy nhiên Đ không biết tên, địa chỉ nơi ở cụ thể của người lái xe ôm và người bán ma túy cho mình nên không có cơ sở để điều tra làm rõ và xử lý được.
Vật chứng: 01(Một) gói ni lông trong suốt, kích thước 1,5x1,5cm viền xanh, bên trong chứa tinh thể màu trắng chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây để xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại bản Cáo trạng số: 126/CT-VKS ngày 10/11/2021 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây truy tố bị cáo Trần Quang Đ ra trước Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây để xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy tại khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Trần Quang Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên. Bị cáo ăn năn về hành vi phạm tội của mình đề nghị Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm được trở về lao động hòa nhập xã hội, giúp đỡ gia đình.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Trần Quang Đ đủ yếu tố cấu thành Tàng trữ trái phép chất ma túy. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm khoản 1 Điều 249, khoản s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt Trần Quang Đ từ 18 đến 21 tháng tù;
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo;
Về vật chứng:
- Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 (một) Phong bì niêm phong dán kín của Phòng KTHS-CATP. Hà Nội bên ngoài có chữ kí của đối tượng Trần Quang Đ, người chứng kiến Lê Thanh Tuấn; Cán bộ Công an thị xã Sơn Tây Nguyễn Đức Công và Giám định viên Trần Huy Vũ;
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Sơn Tây, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo Trần Quang Đ nhận thấy:
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, các lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:
Vào hồi 11 giờ 15 phút ngày 30/8/2021, Trần Quang Đ gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy với giá 300.000đ tại khu vực vườn hoa trước cổng Bệnh viện Quân Y 105 để sử dụng. Sau đó, Đ đi đến khu vực đầu ngõ 01, phố Chùa Thông, phường Sơn Lộc, thị xã Sơn Tây thì bị Công an thị xã Sơn Tây kiểm tra hành chính, bắt giữ, thu tại tay phải của Đ 01(Một) gói ni lông trong suốt, kích thước 1,5x1,5cm viền xanh, bên trong chứa tinh thể màu trắng. Kết luận giám định số: 6622/KLGĐ-PC09 ngày 07/9/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội đã kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 01 gói ni lông là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,271gam
Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định hành vi tàng trữ ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,271gam của bị cáo Trần Quang Đ phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây truy tố bị cáo Trần Quang Đ về tội trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Đối với người lái xe ôm chở Đ đến trước cổng Bệnh viện Quân Y 105 và người đàn ông đã bán ma túy cho Đ ở khu vực vườn hoa trước cổng Bệnh viện Quân y 105 do Đ không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh làm rõ nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về T chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, xâm phạm đến chính sách độc quyền về ma túy của Nhà nước được pháp luật bảo vệ. Bị cáo có nhân thân xấu, là người nghiện ma túy đã bị xử lý hình sự và hành chính về tội trộm cắp tài sản, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, thể hiện sự coi thường pháp luật. Do đó cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo;
. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Trần Quang Đ không có tài sản riêng, không có công việc, thu nhập ổn định, thuộc trường hợp hộ ngh o nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 (một) Phong bì niêm phong dán kín của Phòng KTHS-CATP. Hà Nội bên ngoài có chữ kí của đối tượng Trần Quang Đ, người chứng kiến Lê Thanh Tuấn; Cán bộ Công an thị xã Sơn Tây Nguyễn Đức Công và Giám định viên Trần Huy Vũ là những vật cấm lưu thông, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Trần Quang Đ phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Trần Quang Đ: 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 30/8/2021.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) Phong bì niêm phong dán kín của Phòng KTHS-Công an TP. Hà Nội bên ngoài có chữ kí của đối tượng Trần Quang Đ, người chứng kiến Lê Thanh Tuấn; Cán bộ Công an thị xã Sơn Tây Nguyễn Đức Công và Giám định viên Trần Huy Vũ.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/11/2021 giữa Công an thị xã Sơn Tây và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và xử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Trần Quang Đ phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA