- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thanh Long - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Lê Thanh L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 124/2021/HS-ST Ngày 16 - 12 - 2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Phúc Định
Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Thái Quang Định
2. Bà Phạm Thị Dung
- Thư k phiên tòa: Bà Dương Thị Tố Tâm – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.
- ại diện Viện ki m sát nh n d n thành ph ông B , t nh uảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Mạnh Hoàng - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 12 năm 2021, tại phòng xử án Toà án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 122/2021/TLST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 123//2021/QĐXXST-HS ngày 02/12/2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Thanh L (tên gọi khác: Không); sinh ngày 22 tháng 9 năm 1990 tại thành phố U B, tỉnh Quảng Ninh. Nơi ĐKHKTT: tổ 5, khu 3, phường V D, thành phố U B, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Xuân Th, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị X, sinh năm: 1965; vợ, con: Chưa có; tiền án: Ngày 27/9/2016 bị Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 04/12/2017, chấp hành xong hình phạt tù, chưa thi hành án phần dân sự của bản án; Ngày 16/7/2018 bị Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 16/9/2019, chấp hành xong hình phạt tù, chưa thi hành xong phần dân sự của bản án; tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 11/6/2012 Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử phúc thẩm, xử phạt 09 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Ngày 28/3/2013 chấp hành xong bản án; bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 27/10/2021 đến ngày 05/11/2021, tạm giam từ ngày 05/11/2021, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên tòa.
Người chứng kiến:
1. Anh Lương Văn L, sinh năm 1954; nơi cư trú: tổ 29, khu 5, phường Tr V, thành phố U B, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa.
2. Anh Nguyễn Trọng C, sinh năm 1952; Nơi cư trú: tổ 31, khu 5, phường Tr V, thành phố U B, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 15 giờ 20 phút ngày 27/10/2021, tổ Công tác Công an phường Trưng Vương, thành phố Uông Bí làm nhiệm vụ tại tổ 34, khu 6, phường Tr V, thành phố U B phát hiện bắt quả tang Lê Thanh L có hành vi cất giấu trái phép chất nghi là ma túy. Quá trình kiểm tra, L đã thả từ lòng tay trái xuống dưới nền đường cách vị trí L đứng khoảng 50cm 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng (1,5x2)cm, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng.
Tại bản Kết luận giám định số 1991/KLGĐ ngày 02/11/2021 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: Mẫu vật gửi giám định là ma túy Methamphetamine; khối lượng là 0,245 gam.
Quá trình điều tra, bị can L khai nhận như sau: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 27/10/2021, L đang ở nhà tại phường V D, thành phố U B thì T (trú tại khu 5A, phường V D, thành phố U B - bạn xã hội của L) đến nhà rủ L ra thành phố U B chơi, L đồng ý. T điều khiển xe mô tô Honda Vision (L không nhớ biển kiểm soát) chở L đến khu vực đường bê tông phường Q Tr, thành phố U B, T bảo L đợi. Khoảng 10 phút sau, T quay lại đón L đến nhà nghỉ D A ở phường Tr V, thành phố U B, T lấy từ trong túi quần 1 túi nilon màu trắng kích thước khoảng (1,5x2)cm chứa ma túy “đá” đưa cho L bảo L cầm để vào nhà nghỉ cùng nhau sử dụng ma túy, còn T đi mua thuốc lá. L đồng ý cầm túi ma túy đi vào sân nhà nghỉ thì bị tổ công tác công an phường Trưng Vương kiểm tra. Do lo sợ nên L đã thả túi ma túy từ lòng bàn tay trái xuống nền đất cách vị trí L đứng khoảng 50cm nhưng bị công an phát hiện bắt quả tang.
Bản cáo trạng số 128/CT-VKSUB ngày 19/11/2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí đã truy tố Lê Thanh L về tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị: Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Lê Thanh L từ 05 năm đến 06 năm tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 27/10/2021. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo.
- Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 1991/KLGĐ, ngày 02/11/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, bên trong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định, còn nguyên vẹn.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như tại cơ quan điều tra và thừa nhận: Việc truy tố và đưa bị cáo ra xét xử là đúng người, đúng tội, không oan sai, không có ý kiến gì đối với nội dung bản cáo trạng đã truy tố và không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát; bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Những người chứng kiến: Anh Lương Văn L và anh Nguyễn Trọng C có lời khai trong quá trình điều tra phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về các tài liệu, chứng cứ, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Uông Bí, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, của Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về việc định tội đối với bị cáo: Lời khai của bị cáo Lê Thanh L tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai xác nhận của những người chứng kiến và nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ của bị cáo, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ 20 phút ngày 27/10/2021, tại khu vực tổ 34, khu 6, phường Tr V, thành phố U B, tỉnh Quảng Ninh, Lê Thanh L có hành vi tàng trữ trái phép 0,245 gam ma túy Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị lực lượng công an phát hiện, bắt quả tang. Bị cáo là người thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, tuy biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì hành vi đó đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý chất ma tuý của Nhà nước. Bị cáo có hai tiền án chưa được xóa án tích, lại tiếp tục phạm tội, do đó hành vi phạm tội này của bị cáo Lê Thanh L thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí truy tố bị cáo và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Về hình phạt:
Hình phạt chính:
- Về tính chất, mức độ phạm tội bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an xã hội. Vì vậy phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới đảm bảo tính giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng về trách nhiệm hình sự nhưng có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị Tòa án nhân dân các cấp xét xử phạm tội.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Để tăng cường biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm nói chung cũng như để giáo dục, cải tạo riêng đối với bị cáo, cần có một hình phạt nghiêm, xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để rèn luyện, giáo dục bị cáo sửa chữa lỗi lầm của bản thân để trở thành công dân tốt.
Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo phạm tội không vì mục đích lợi nhuận, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với: 01 (một) phong bì niêm phong số 1991/KLGĐ ngày 02/11/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh. Bên trong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định, còn nguyên vẹn, đây là chất Nhà nước cấm tàng trữ, nên cần tịch thu tiêu hủy;
Về các tình tiết khác trong vụ án: Đối với đối tượng T theo L khai là người đưa túi ma túy cho L có địa chỉ tại khu 5A, phường V D, thành phố U B, quá trình điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không có đối tượng nào có địa chỉ như trên nên không đề cập xử lý.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định;
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định;
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ vào: điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
- Tuyên bố: bị cáo Lê Thanh L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Xử phạt: bị cáo Lê Thanh L 05 (Năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 27/10/2021.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong số 1991/KLGĐ, ngày 02/11/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, bên trong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định, còn nguyên vẹn.
(Tình trạng và đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng hồi 14 giờ, 00 phút, ngày 22 tháng 11 năm 2021 giữa Công an thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBNTQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Lê Thanh L phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước.
4. Về Quyền kháng cáo: Căn cứ: Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Tòa án ND tỉnh Quảng Ninh; - Viện kiểm sát ND tỉnh Quảng Ninh; - Viện kiểm sát NDTP Uông Bí; - Cơ quan CSĐT Công an TP Uông Bí; - Cơ quan THAHS Công an TP Uông Bí; - Nhà tạm giữ Công an TP Uông Bí; - Chi cục THADS TP Uông Bí; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh. - Lưu hồ sơ, VP./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Phúc Định |