vanban.org

Bản án 124/2021/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 10/12/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 10/12/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quốc T1 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án; được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 07/4/2020 đến ngày 16/4/2020.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc Th 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 10/12/2021). Giao bị cáo Nguyễn Ngọc Th cho Ủy ban nhân dân phường PH2, thành phố NT1, tỉnh KH giám sát, giáo dục trong thời gian thử …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quốc T1, Nguyễn Ngọc Th, Trần Văn Ph, Nguyễn Hoàng Ch tội “Đánh bạc”. - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quốc T1 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án; được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 07/4/2020 đến ngày 16/4/2020.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH KH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án: 124/2021/HS-PT
Ngày: 10-12-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Thành

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Văn Tuấn

Ông Trần Anh Khoa

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh KH.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh KH tham gia phiên tòa: Ông Võ Văn Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 10/12/2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh KH xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 112/2021/TLPT-HS ngày 02/8/2021 đối với các bị cáo Nguyễn Quốc T1, Nguyễn Ngọc Th, Trần Văn Ph, Nguyễn Hoàng Ch do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 128/2021/HSST ngày 17/6/2021 của Tòa án nhân dân thành phố NT1, tỉnh KH.

Bị cáo có kháng cáo:

1. Nguyễn Quốc T1 - Sinh năm: 1975; nơi cư trú: 43/5 đường Thủy Xưởng, phường Phương Sơn, thành phố NT1, tỉnh KH; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Công nhân; Họ tên bố: Nguyễn T2 (Đã chết); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị L1 - Sinh năm: 1953; Họ tên vợ: Đặng Hồng Quân - Sinh năm: 1990; Họ tên con: Nguyễn Thị Phương Linh - Sinh năm: 2016; Con thứ hai sinh năm: 2021; Tiền sự: Không.

- Tiền án:

+ Ngày 14/01/1997, bị Tòa án nhân dân tỉnh KH xử phạt 12 tháng tù về tội “Trốn khỏi nơi giam” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 05/HS-ST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/11/1998. Chưa đóng 50.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

+ Ngày 19/03/2001, bị Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại ĐN1 xử phạt 05 năm tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” tại Bản án hình sự phúc thẩm số 147/HS-PT. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/4/2005. Đã thi hành xong phần án phí hình sự sơ thẩm và án phí hình sự phúc thẩm theo biên lai số 62 ngày 26/6/2008. Chưa bồi thường số tiền 6.000.000 đồng cho bà Bùi Thị Qu, 1.625.000 đồng cho anh Trần Văn T3, 4.945.700 đồng cho ông Nguyễn B.

- Nhân thân:

+ Ngày 30/9/1993, bị Tòa án nhân dân thành phố NT1 Xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài công dân” theo Bản án sơ thẩm số 127/HS-ST. Đã thi hành xong phần án phí, sơ thẩm theo biên lai số 15 ngày 30/9/1994.

+ Ngày 19/09/1996, bị Tòa án nhân thành phố NT1 xử phạt 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 232/HSST Chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/11/1998, được miễn án phí.

- Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 29/4/2021. Có mặt.

2. Nguyễn Ngọc Th - Sinh năm: 1972; nơi cư trú: 84/6 đường Đồng Nai, phường PH2, thành phố NT1, tỉnh KH; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ tên bố: Nguyễn D (Đã chết); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Th1- Sinh năm: 1931; Họ tên vợ: Trần Phan Thị Dạ Th2 - Sinh năm: 1980; Họ tên con: Nguyễn Ngọc Huyền Ng1

- Sinh năm: 2001 và Nguyễn Ngọc Huy H1 - Sinh năm: 2005; Tiền án, tiền sự: Không.

- Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 29/4/2021. Có mặt.

3. Nguyễn Hoàng Ch; Sinh năm: 1969; nơi cư trú: 135 đường Trần Nhật Duật, phường PH1, thành phố NT1, tỉnh KH; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Đại học; Nghề nghiệp: Kế toán; Họ tên bố: Nguyễn Kh (Đã chết); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị M (Đã chết); Họ tên vợ: Nguyễn Thị Thu B - Sinh năm: 1972; Họ tên con: Nguyễn Hoàng Long - Sinh năm: 1992 và Nguyễn Hoàng H4 - Sinh năm: 1992; Tiền án, tiền sự: Không.

- Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 29/4/2021. Có mặt.

4. Trần Văn Ph; Sinh năm: 1980; nơi cư trú: 16C đường Lê Hồng Phong, phường PH2, thành phố NT1, tỉnh KH; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ tên cha: Trần Văn L2 - Sinh năm: 1958; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Th3 - Sinh năm: 1957; Họ tên vợ: Phạm Tăng Bảo L4 - Sinh năm: 1992; Họ tên con: Trần Minh Đ2 - Sinh năm: 2014; Tiền án, tiền sự: Không

- Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 29/4/2021. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu tháng 3/2020, Nguyễn Hữu H2 mở quán cà phê tại nhà ở địa chỉ số STH 4315 đường số 4, phường PH2, thành phố NT1, tỉnh KH để bán nước giải khát và còn sử dụng phòng khách để cho những người chơi đến đánh bạc để thu tiền xâu.

Vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 07/4/2020, Nguyễn Ngọc Th, Nguyễn Quốc T1, Trần Văn Ph, Nguyễn Hoàng Ch cùng đi đến nhà số STH 4315 đường số 4, PH2, NT1, KH do Nguyễn Hữu H2 làm chủ để đánh bạc với nhau bằng hình thức đánh bài “Binh xập xám” được thua bằng tiền mặt. Khi các đối tượng chơi đánh bạc đến khoảng 13 giờ 30 phút thì cơ quan Công an kiểm tra bắt quả tang, thu giữ số tiền dùng đánh bạc tại sòng bạc là 8.050.000 đồng (Tám triệu không trăm năm mươi ngàn) cùng với 1.125.000 đồng tiền xâu được đựng trong hủ nhựa.

Quá trình điều tra Nguyễn Ngọc Th, Nguyễn Quốc T1, Trần Văn Ph, Nguyễn Hoàng Ch đã khai nhận hành vi đánh bạc cụ thể: Cách thức chơi, người chơi sẽ lấy 03 hột “Xí ngầu” xóc để lấy “Cửa” (Lấy bài chơi), 01 bộ bài tây 52 lá sẽ được chia cho 4 người, mỗi người được 13 lá bài. Tùy theo bài được chia, người chơi có thể sắp xếp thành 03 “Chi” trong đó có 01 “Chi” gồm 03 lá bài, có 2 “Chi” mỗi “Chi” 5 lá bài. Sau đó, 04 người chơi sẽ so sánh bài với nhau theo quy luật từ cao xuống thấp, “Thùng phá sảnh” là 5 lá bài liên tiếp đồng chất, “Tứ quý” là 4 lá bài đồng số, “Cù” là 3 lá bài đồng số và 1 đôi bài, “Thùng” là 5 lá bài đồng chất, “Sảnh” là 5 lá bài liên tiếp không đồng chất, “Xám” là 3 lá bài đồng số, “Thú” là 2 đôi bài, cuối cùng là “Đôi”. Những người chơi quy định mỗi người sẽ làm cái 3 lần để chia bài; mỗi “Chi” thắng sẽ ăn được 50.000 đồng. Một ván bài có thể thắng nhiều nhất là 27 “Chi”, nếu cá “Xì” thì có thể thắng 40 “Chi”, người nào ăn đủ 19 “Chi” trở lên thì sẽ bỏ tiền “Xâu” tương đương với 01 chi vào trong hộp nhựa để trên bàn để nộp cho H2. Nguyễn Quốc T1 đem theo 10.000.000 đồng đến chiếu bạc. T1 đã sử dụng 1.000.000 đồng dùng để đánh bạc và bị thua 200.000 đồng. Tại thời điểm bắt quả tang, cơ quan công an đã thu giữ trên người của T1 9.000.000 đồng tiền cá nhân. Nguyễn Ngọc Th là người đánh bạc, đem theo 15.000.000 đồng đến chiều bạc. Th đã sử dụng 500.000 đồng dùng để đánh bạc và thắng được 2.200.000 đồng. Tại thời điểm bắt quả tang đã thu giữ của Th số tiền 14.500.000 đồng, trong đó có 2.000.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc và 12.500.000 đồng là tiền riêng. Trần Văn Ph đem theo 7.000.000 đồng và 400 USD đến chiếu bạc. Ph dùng 3.000.000 đồng để đánh bạc và đã thua 950.000 đồng. Tại thời điểm bắt quả tang thu giữ trên người của Ph số tiền 6.050.000 đồng và 400 USD, trong đó có 2.050.000 đồng là tiền đánh bạc; 4.000.000 đồng và 400 USD là tiền cá nhân. Nguyễn Hoàng Ch mang theo 11.500.000 đồng đến chiếu bạc. Ch sử dụng 2.000.000 đồng để đánh bạc, thắng được 2.550.000 đồng. Thu giữ của Ch số tiền 9.500.000 đồng là tiền cá nhân.

Như vậy, số tiền sử dụng đánh bạc “Binh xập xám” là 12.100.000 đồng, tiền “xâu” là 1.125.000 đồng. Tổng tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 13.225.000 đồng.

Tại thời điểm bắt quả tang còn có 02 đối tượng là Trần Minh H4 và Phạm Bảo H5 đang đánh bạc dưới hình thức chơi cá ngựa được thua bằng tiền mặt. Thu giữ trên sòng bạc số tiền 940.000 đồng; trong đó có 340.000 đồng là số tiền mà H4 dùng đánh bạc và 600.000 đồng là số tiền mà H5 dùng đánh bạc. Thu giữ số tiền dùng để đánh bạc 940.000 đồng, 01 bộ bàn cờ cá ngựa, 02 chén sành, 05 cục xí ngầu. Như vậy, Trần Minh H4, Phạm Bảo H5 chơi cá ngựa” được thua bằng tiền, nhưng số tiền chơi đánh bạc dưới 5.000.000 đồng và các đối tượng trên chưa có tiền án, tiền sự liên quan đến hành vi “Đánh bạc”, “Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc”. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố NT1 đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 64 và 65/QĐ-XPHC ngày 04/5/2021 đối với Trần Minh H4, Phạm Bảo H5.

Đối với Nguyễn Hữu H2: Ngày 15/4/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Nha trang ra Quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Hữu H2 về hành vi “Gá bạc”. Quá trình điều tra, Nguyễn Hữu H2 chết, đã đăng ký khai tử số 09 ngày 04/02/2021 tại Ủy ban nhân dân phường PH1, thành phố NT1, tỉnh KH. Ngày 18/02/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố NT1 đã ra Quyết định đình chỉ điều tra vụ án hình sự số 06/ĐTHS và Quyết định đình chỉ điều tra bị can số 05/ĐTHS đối với Nguyễn Hữu H2.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 128/2021/HSST ngày 17/6/2021 của Tòa án nhân dân thành phố NT1, tỉnh KH quyết định:

1. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quốc T1 04 (bốn) năm tù về tội “Đánh bạc”.

2. Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc Th 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”.

3. Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Trần Văn Ph 06 (Sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”.

4. Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hoàng Ch 09 (Chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”.

Ngoài ra bản án còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 18/6/2021, các bị cáo Nguyễn Ngọc Th, Trần Văn Ph, Nguyễn Hoàng Ch có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.

Ngày 28/6/2021, bị cáo Nguyễn Quốc T1 có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh KH phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Đơn kháng cáo của các bị cáo trong thời hạn quy định pháp luật nên có cơ sở để được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Quốc T1 phạm tội “Đánh bạc” theo điểm d khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự và các bị cáo Nguyễn Ngọc Th, Trần Văn Ph, Nguyễn Hoàng Ch phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp luật. Cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của các bị cáo; áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm đối với các bị cáo Nguyễn Quốc T1, Nguyễn Ngọc Th, Trần Văn Ph. Đối với bị cáo Nguyễn Hoàng Ch, đã cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ có bà ngoại được truy tặng Danh hiệu Mẹ Việt Nam anh hùng, và là cháu của Liệt sỹ là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử giảm một phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Hoàng Ch.

- Các bị cáo Nguyễn Quốc T1, Nguyễn Ngọc Th, Trần Văn Ph, Nguyễn Hoàng Ch giữ nguyên kháng cáo và không có ý kiến tranh luận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Quốc T1, Nguyễn Ngọc Th, Trần Văn Ph, Nguyễn Hoàng Ch trong thời hạn quy định của pháp luật nên vụ án được xét xử phúc thẩm.

Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn Quốc T1, Nguyễn Ngọc Th, Trần Văn Ph, Nguyễn Hoàng Ch đã khai nhận hành vi mà các bị cáo đã thực hiện đúng như bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau và phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 07/4/2020, tại nhà của Nguyễn Hữu H2 ở số STH 4315 đường số 4, phường PH2, thành phố NT1, tỉnh KH, các bị cáo Nguyễn Quốc T1, Nguyễn Ngọc Th, Trần Văn Ph, Nguyễn Hoàng Ch đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh bài “Binh xập xám” được thua bằng tiền với số tiền thu giữ trên chiếu bạc là 8.050.000 đồng; tiền “Xâu” là 1.125.000 đồng; tiền được sử dụng để đánh bạc thu giữ được trên người Nguyễn Ngọc Th là 2.000.000 đồng và Trần Văn Ph là 2.050.000 đồng. Tổng số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc là: 13.225.000 đồng (Mười ba triệu hai trăm hai mươi lăm ngàn đồng). Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Nguyễn Ngọc Th, Trần Văn Ph, Nguyễn Hoàng Ch về tội “Đánh bạc” thuộc trường hợp “đánh bạc trái phép được thua bằng tiền từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự và bị cáo Nguyễn Quốc T1 về tội “Đánh bạc” thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Quốc T1: Bị cáo bị truy tố, xét xử về “Đánh bạc” theo điểm d khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự; Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá nhân thân của bị cáo và áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 04 năm tù là có phần nghiêm khắc so với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, sửa bản án sơ thẩm giảm một phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Quốc T1.

Xét đơn kháng cáo xin được hưởng án treo của các bị cáo Nguyễn Ngọc Th, Trần Văn Ph, Nguyễn Hoàng Ch: Các bị cáo bị truy tố, xét xử về “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự; Tòa án cấp sơ thẩm đã cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; gia đình bị cáo Th có công với cách mạng; bản thân bị cáo Ph đã thực hiện xong nghĩa vụ quân sự nên các bị cáo Th, Ph được áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Th 06 (sáu) tháng tù, Trần Văn Ph 06 (sáu) tháng tù, Nguyễn Hoàng Ch 09 (sáu) tháng tù là có căn cứ và đúng pháp luật. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Hoàng Ch cung cấp tài liệu bị cáo có bà ngoại là Nguyễn Thị Lá được truy tặng Danh hiệu Mẹ Việt Nam anh hùng, và là cháu của Liệt sỹ Nguyễn Thành Trúc và Nguyễn Thị Mỹ Liên nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Ch. Các bị cáo đều có nhân thân tốt; có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, sửa bản án sơ thẩm và cho các bị cáo Th, Ph, Ch được hưởng án treo.

Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên các bị cáo Nguyễn Quốc T1, Nguyễn Ngọc Th, Trần Văn Ph, Nguyễn Hoàng Ch không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, sửa bản án sơ thẩm giảm hình phạt cho bị cáo Nguyễn Quốc T1;

- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Quốc T1,

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quốc T1 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án; được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 07/4/2020 đến ngày 16/4/2020.

2. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, sửa bản án sơ thẩm giữ nguyên mức hình phạt tù và cho hưởng án treo đối với bị cáo Nguyễn Ngọc Th, Trần Văn Ph, Nguyễn Hoàng Ch;

- Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Ngọc Th, Trần Văn Ph, Nguyễn Hoàng Ch,

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc Th 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 10/12/2021).

Giao bị cáo Nguyễn Ngọc Th cho Ủy ban nhân dân phường PH2, thành phố NT1, tỉnh KH giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Xử phạt: Bị cáo Trần Văn Ph 06 (Sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 10/12/2021).

Giao bị cáo Trần Văn Ph cho Ủy ban nhân dân phường PH2, thành phố NT1, tỉnh KH giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hoàng Ch 09 (Chín) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 10/12/2021).

Giao bị cáo Nguyễn Hoàng Ch cho Ủy ban nhân dân phường PH1, thành phố NT1, tỉnh KH giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, các bị cáo Nguyễn Quốc T1, Nguyễn Ngọc Th, Trần Văn Ph, Nguyễn Hoàng Ch không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 10/12/2021).

Cỡ chữ