vanban.org

Bản án 124/2020/HSST — Hình sự

TAND Q. Ba Đình, TP. Hà Nội Tuyên án 20/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bị cáo Bàn Văn T 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ đi thời gian bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05 tháng 01 đến ngày 13 tháng 01 năm 2020;

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo bị truy về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. - phạm tội tàng trữ trái phép…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Bàn Văn T 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ đi thời gian bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05 tháng 01 đến ngày 13 tháng 01 năm 2020;
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BA ĐÌNH
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 124/2020/HSST
Ngày 20 tháng 7 năm 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Long

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Mai Phương

2. Bà Nguyễn Thị Thụy

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thùy Linh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa:

Bà Trần Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội đưa ra xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số: 124/2020/TL - HSST ngày 24 tháng 6 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 204/2020/QĐXX-HSST ngày 06 tháng 7 năm 2020 đối với:

Bị cáo Bàn Văn T, sinh năm 1995; Đăng ký hộ khẩu và cư trú: Thôn Đ, xã K, huyện C, tỉnh T. Nghề nghiệp: Công an. Văn hóa: 12/12. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Dao. Tôn giáo: Không. Họ và tên bố: Bàn Văn C, sinh năm 1973. Họ và tên mẹ: Đặng Thị T, sinh năm 1974. Là con thứ nhất trong gia đình có hai anh em; Chưa có vợ, con; Tiền án, Tiền sự: chưa có. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 04/01/2020. Hiện đang được áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ 15 phút, ngày 04 tháng 01 năm 2020, tại trước cửa số nhà 6/8/379 phố Đội Cấn, phường Liễu Giai, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, tổ công tác Công an phường Liễu Giai tiến hành kiểm tra hành chính Bàn Văn T và Nguyễn Duy Tuyên, sinh năm: 1991, Đăng ký hộ khẩu: Thôn Phú Xuyên, xã Phú Châu, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội, do có biểu hiện nghi vấn. Qua kiểm tra, T tự nguyện lấy từ trong túi áo khoác bên phải 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng bên trong chứa 01 túi nilon màu trắng, kích thước khoảng 02 x 03 cm, bên trong chứa các tinh thể màu trắng giao nộp cho tổ công tác. T khai nhận là ma túy đá, vừa mua về, mục đích để sử dụng. Tổ công tác đã đưa T cùng vật chứng về trụ sở để làm rõ.

Ngoài thu giữ số ma túy trên, tổ công tác còn thu giữ của Bàn Văn T: 01 điện thoại di động SAMSUNG A7 màu vàng, có số sim: 0888191995, 0364254224; 01 ví da đã cũ bên trong có 01 thẻ Đảng viên, 01 thẻ học viên Học viện An ninh nhân dân; 01 CMND mang tên Bàn Văn T. Thu giữ của Nguyễn Duy Tuyên 01 xe máy HONDA Wave xanh đen bạc, BKS: 29LS:215.15, SM: HC12E7272838; SK: 1259FY272789.

Tại Cơ quan điều tra, Bàn Văn T khai nhận: Khoảng 19 giờ 30 phút, ngày 04 tháng 01 năm 2020, T sử dụng tài khoản zalo có nick “Table” đăng ký bằng số điện thoại: 088.819.1995 nhắn tin cho đối tượng bán ma túy sử dụng nick zalo “Ken” để mua ma túy đá với giá: 400.000 đồng. Anh ta hẹn T giao dịch tại ngõ 379 phố Đội Cấn. Khoảng 22 giờ 15 phút, ngày 04/01/2020 T đặt xe ôm qua ứng dụng “Be” được anh Nguyễn Duy Tuyên chở đến địa chỉ trên. Khi đi đến trước cửa số nhà 6/8/379 Đội Cấn, T dặn người lái xe ôm đứng chờ, còn T đi vào trong ngõ một mình gặp đối tượng bán ma túy. Tại đây, T đã đưa anh ta 400.000 đồng được 01 túi nilon ma tuý đá đựng trong 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng. T cất bao thuốc lá chứa ma túy trên vào túi áo khoác bên phải rồi đi bộ ra đầu ngõ, yêu cầu Tuyên chở về đường Nguyễn Trãi thì bị lực lượng công an phường Liễu Giai kiểm tra, bắt quả tang cùng vật chứng.

Lời khai nhận của Bàn Văn T phù hợp với lời khai người chứng kiến, vật chứng thu giữ, hiện trường, cùng toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

Bàn Văn T là Đảng viên Chi bộ B1-LT10, Đảng bộ Phòng quản lý học viên, Đảng uỷ Học viện An ninh nhân dân. Đã bị khai trừ ra khỏi Đảng theo Quyết định thi hành kỷ luật số 1380 - QĐ/ĐU ngày 08/01/2020 của Đảng uỷ Học viện An ninh nhân dân; Tước danh hiệu Công an nhân dân theo Quyết định kỷ luật học viên số 109 ngày 08/01/2020 của Học viện An ninh nhân dân.

Đối tượng bán ma túy cho Bàn Văn T, Cơ quan điều tra không xác định được lai lịch nên không có cơ sở để xử lý.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA Wave xanh đen bạc, BKS: 29LS:215.15, SM: HC12E7272838; SM: 1259FY272789 qua điều tra, xác định được là xe của anh Nguyễn Duy Tuyên. Anh Tuyên không biết T mua và tàng trữ ma túy nên ngày 02/6/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Ba Đình đã trao trả chiếc xe trên cho anh Tuyên do không liên quan đến vụ án.

Ngày 02/6/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Ba Đình đã trao trả 01 thẻ Đảng viên, 01 thẻ học viên Học viện An ninh nhân dân mang tên Bàn Văn T cho đại diện phòng Quản lý học viên, Học viện An ninh nhân dân; trả 01 Chứng minh nhân dân mang tên Bàn Văn T cho T do không liên quan đến hành vi phạm tội.

Kết luận giám định số 312/KLGĐ-PC09 ngày 12 tháng 01 năm 2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội xác định: “Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,470 gam”.

Cáo trạng số: 126/CT-VKS ngày 18 tháng 6 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Kiểm sát viên - Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm vụ án và đưa ra những chứng cứ, lý lẽ kết luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tại phiên tòa bị cáo khai nhận thành khẩn toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo theo đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Đề nghị về hình phạt: Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án từ 14 tháng đến 18 tháng tù.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Đề nghị về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Tịch thu và tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong trong bên trong có 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long chứa 0,470 gam ma túy loại Methamphetamine; 01 (một) ví giả da đã cũ. Tịch thu sung quỹ Nhà Nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A7 màu vàng đã cũ do bị cáo dùng vào việc liên hệ mua ma túy.

Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội, bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và không có tranh luận bào chữa gì về mức án. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và người làm chứng.

NHẬN ĐỊNH HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

[1] Quá trình điều tra, truy tố liên quan đến đến việc giải quyết vụ án (Về hành vi, các quyết định tố tụng), Điều tra viên, Kiểm sát viên đã tiến hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

[2] Nội dung: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thừa nhận toàn bộ diễn biến vụ án đúng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 23 giờ 15 phút ngày 04 tháng 01 năm 2020, tại trước cửa số nhà 6/8/379 phố Đội Cấn, phường Liễu Giai, Bàn Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,470 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân, đã bị Tổ công tác Công an phường Liễu Giai kiểm tra, bắt quả tang cùng vật chứng. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định cùng các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương. Xét bị cáo nhân thân chưa có tiền án, tiền sự.

- Do vậy cần thiết phải có hình phạt tương xứng áp dụng đối với hành vi phạm tội của bị cáo mới có đủ tác dụng cải tạo, giáo dục thành người có ích cho xã hội và phòng ngừa làm gương cho người khác biết tôn trọng pháp luật.

Khi xem xét, quyết định mức hình phạt đối với bị cáo: Hội đồng xét xử xét thái độ của bị cáo tại phiên tòa thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình. Do đó cần thiết áp dụng điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với đối tượng bán cho bị cáo ma túy, Cơ quan điều tra không làm rõ được lai lịch nên không có cơ sở để xử lý.

[3] Xử lý vật chứng: Tịch thu và tiêu hủy: 01 (gói) phong bì niêm phong trong bên trong có 01 (một) vỏ bao thuốc lá Thăng Long chứ 0,470 gam ma túy loại Methamphetamine. Tịch thu sung quỹ Nhà Nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A7 màu vàng đã cũ. Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA Wave xanh đen bạc, BKS:29LS:215.15, SM: HC12E7272838; SM: 1259FY272789, Cơ quan điều tra đã trao trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp anh Nguyễn Duy Tuyên là phù hợp quy định của pháp luật.

[4] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về Điều luật áp dụng, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và về xử lý vật chứng phù hợp các quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

[5] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các căn cứ, nhận định của Hội đồng xét xử;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c, khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

- Xử phạt: Bị cáo Bàn Văn T 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ đi thời gian bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05 tháng 01 đến ngày 13 tháng 01 năm 2020;

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Tịch thu và tiêu hủy: 01 (gói) phong bì niêm phong trong bên trong có 01 (một) vỏ bao thuốc lá Thăng Long chứa 0,470 gam ma túy loại Methamphetamine, bên ngoài có chữ ký của giám định viên và đối tượng; 01 (một) ví giả da đã cũ; Tịch thu sung quỹ Nhà Nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A7 màu vàng đã cũ, theo Biên bản bàn giao vật chứng số 155 ngày 08 tháng 7 năm 2020 của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

- Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Điều 23, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày 20 tháng 7 năm 2020./.

Cỡ chữ