- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Đức Long tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
- Tòa quyết gì? Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư niêm phong mẫu vật hoàn trả sau giám định và 01 phong bì thư niêm phong vỏ bao gói ban đầu.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH NINH BÌNH Bản án số: 124/2020/HS-ST Ngày: 19 - 8 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thinh và ông Lê Văn Tú.
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thu Hương - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Lê Quang Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 122/2020/TL-STHS ngày 03 tháng 8 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 118/2020/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2020 đối với bị cáo:
Đỗ Đức L (Tên gọi khác: Không) sinh năm 1988 tại Ninh Bình. Nơi cư trú: Số M, đường TT, phố PC, phường NT, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn K và bà Nguyễn Thị O; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 02/6/2020 đến ngày 05/6/2020 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình cho đến nay. “Có mặt”.
Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn H. “Vắng mặt”
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đỗ Đức L là người nghiện ma túy. Khoảng 14 giờ 15 phút ngày 02/6/2020, Đỗ Đức L mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX Biển kiểm soát 35B1-711.32 của anh Nguyễn Thanh T sinh năm 1982 ở số B, đường XT, phố TT, phường TTh, thành phố Ninh Bình để đi đến thành phố Tam Điệp. Khi Đỗ Đức L đi đến khu vực đường S, phố VG, phường NP, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình thì L gặp một người nam giới (L không biết tên, tuổi, địa chỉ) đang đứng ở bên đường trông giống người nghiện, Đỗ Đức L đi lại gần chỗ người nam giới và hỏi “Anh có hàng không” - Ý L hỏi mua ma túy của người nam giới. Người nam giới nói “Mua loại gì” thì L trả lời “Em muốn mua Heroine”. Người này hỏi “Mua bao nhiêu”, Đỗ Đức L trả lời “Em mua 200.000 đồng”. Sau đó Đỗ Đức L lấy 200.000 đồng đưa cho người nam giới, người này cầm tiền rồi đưa cho L 01 gói Heroine được gói ngoài bằng giấy lịch màu trắng đỏ. Đỗ Đức L mở ra kiểm tra thì thấy đúng là Heroine nên L gói lại và bỏ vào bao thuốc lá Thăng L của mình. Đỗ Đức L cất bao thuốc lá Thăng L vào trong túi quần bên trái rồi đi đến hiệu thuốc tân dược gần đó để mua bơm kim tiêm và nước cất để sử dụng Heroine. Khi Đỗ Đức L đang đứng ở cửa hiệu thuốc tân dược ở đường S, phố VG, phường NP, thành phố Ninh Bình thì gặp Tổ công tác Công an phường NP đang tiến hành làm nhiệm vụ tuần tra đi đến yêu cầu kiểm tra hành chính, thấy vậy L đã tự giác giao nộp 01 bao thuốc lá Thăng L bên trong có 04 điếu thuốc lá và 01 gói Heroine được gói ngoài bằng giấy lịch màu trắng đỏ và khai nhận đó là gói Heroine vừa mua về nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã thu giữ và niêm phong 01 bao thuốc lá Thăng L bên trong có 04 điếu thuốc lá và 01 gói Heroine được gói ngoài bằng giấy lịch màu trắng đỏ, bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng của Đỗ Đức L. Sau đó đưa L cùng tang vật, người làm chứng về trụ sở Công an phường NP tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Ngoài ra Tổ công tác còn thu giữ chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX Biển kiểm soát 35B1-711.32 của Đỗ Đức L.
Cân xác định khối lượng chất bột dạng cục màu trắng chứa trong 01 gói nhỏ được gói ngoài bằng giấy lịch màu trắng đỏ thu giữ của Đỗ Đức L có khối lượng 0,13 gam ký hiệu M để gửi trưng cầu giám định về khối lượng và loại chất ma túy.
Tại bản Kết luận giám định số 136/KLGĐ-PC09-MT ngày 05/6/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: “Mẫu chất bột dạng cục màu trắng ký hiệu M gửi giám định có khối lượng 0,1271(không phẩy một nghìn hai trăm bảy mươi mốt) gam là ma túy, loại Heroine.
Heroine là chất ma túy thuộc bảng Danh mục I, có số thứ tự 09; Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/05/2018 của Chính phủ”.
Tại bản cáo trạng số 121/CT-VKS ngày 31/7/2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố Đỗ Đức L ra trước Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên tham gia phiên toà giữ nguyên quyết định như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đỗ Đức L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đỗ Đức L từ 12 đến 15 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt, tạm giữ 02/6/2020.
Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong mẫu vật hoàn trả sau giám định và 01 phong bì niêm phong vỏ bao gói ban đầu.
Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Đức L khai nhận toàn bộ hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Ninh Bình, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; phù hợp với lời khai người làm chứng; phù hợp với vật chứng thu giữ; bản kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên toà. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ 15 phút ngày 02/6/2020, tại khu vực đường S, phố VG, phường NP, thành phố Ninh Bình, Đỗ Đức L có hành vi cất giữ trái phép 0,1271gam Heroine để sử dụng cho bản thân bị phát hiện, bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố Đỗ Đức L với tội danh và khung hình phạt nêu trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, không những đã xâm phạm trực tiếp tới sự quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma tuý mà còn gây mất ổn định trật tự trị an, an toàn xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ tác hại của ma tuý và sự nghiêm trị của pháp luật đối với những hành vi trái phép liên quan đến ma tuý. Tuy nhiên, vì muốn thoả mãn ý thích cá nhân, bị cáo cố tình mua ma túy để sử dụng dẫn đến phạm tội.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ “ Người phạm tội tự thú” và “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt.
Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo và giúp bị cáo từ bỏ ma tuý, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, sống có ích cho gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo tàng trữ ma tuý để sử dụng, không nhằm mục đích trục lợi nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Các vấn đề khác:
Đối với chiếc xe 01 xe mô tô hiệu Honda Wave RSX Biển kiểm soát 35B1-711.32, quá trình điều tra xác định chiếc xe trên đăng ký mang tên chị Nguyễn Thị Ánh N sinh năm 1986, trú tại số H, đường XT, phố TT, phường TTh, thành phố Ninh Bình là chị vợ của anh Nguyễn Thanh T sinh năm 1982 ở số B, đường XT, phố TT, phường TTh, thành phố Ninh Bình. Chị N cho anh T mượn để làm phương tiện đi lại. Ngày 02/6/2020, anh T cho Đỗ Đức L mượn chiếc xe mô tô trên nhưng không biết L mượn xe để đi mua Heroine. Do vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho chị Nguyễn Thị Ánh N là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Về nguồn gốc ma túy, Đỗ Đức L khai mua của người đàn ông không quen biết tại khu vực đường S, phố VG, phường NP, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình, L không biết tên tuổi địa chỉ của người này, do vậy không có cơ sở điều tra, làm rõ.
Về xử lý vật chứng: Số ma tuý còn lại cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong, cơ quan giám định hoàn trả lại cần tịch thu tiêu hủy.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Đức L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Đỗ Đức L 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt, tạm giữ 02/6/2020.
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư niêm phong mẫu vật hoàn trả sau giám định và 01 phong bì thư niêm phong vỏ bao gói ban đầu.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 04/8/2020).
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Đỗ Đức L phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án 19/8/2020.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnhNinh Bình; - VKSND tỉnh Ninh Binh; - VKSND TP. Ninh Bình; - CA TP Ninh Bình; - Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình; - THADS TP. Ninh Bình; - Sở tư pháp tỉnh Ninh Bình; - Bị cáo; - Lưu VP, HS. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Vũ Thị Hiền |