- Tranh chấp gì? án hình sự — "Le Duy Kh - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố t ng hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố t ng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 124 /2020/HS-PT Ngày: 26-8-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Bùi Ngọc Thạch;
Các Thẩm phán:
Ông Trương Văn Lộc;
Ông Lê Quân Vương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hiền – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thùy - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2020 tại tr s Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương m phiên tòa phúc thẩm công khai xét xử v án hình sự phúc thẩm th lý số:146/2020/TLPT-HS ngày 31 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo Lê Duy Kh. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 121/2020/HS-ST ngày 25 tháng 6 năm 2020 của Tòa án nhân dân thị xã T tỉnh Bình Dương.
Bị cáo kháng cáo: Lê Duy Kh sinh năm 1982 tại tỉnh Bình Dương; hộ khẩu thường trú: Tổ 1 khu phố K phường Tân P thị xã T tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: tài xế; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 6/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Lê Văn D sinh năm 1958 và bà Nguyễn Thị Tấn L sinh năm 1962; vợ tên Nguyễn Thị Lê Th sinh năm 1980; có 02 người con sinh năm 2001 và năm 2015; tiền án tiền sự: không. Nhân thân: ngày 21/6/2016 bị Tòa án nhân dân huyện B tỉnh Bình Dương xử phạt 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo Bản án số 21/2016/HS-ST (chấp hành xong ngày 02/8/2017). Bị cáo bị áp d ng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 12/02/2020 cho đến nay.
Trong v án còn có 05 người đại diện hợp pháp của bị hại; 01 bị đơn dân sự và 02 người có quyền lợi nghĩa v liên quan không kháng cáo và không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập tham gia phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên tòa nội dung v án được tóm tắt như sau:
Lê Duy Kh có Giấy phép lái xe hạng C số 790141997078 do S Giao thông vận tải tỉnh Bình Dương cấp ngày 01/4/2015 có giá trị đến ngày 01/4/2020. Kh lái xe thuê cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Thương mại Vận tải K. Khoảng 11 giờ 20 phút ngày 05/10/2019, Kh điều khiển xe ô tô tải biển số 61C-368.18 lưu thông từ giao lộ Tua 12 về hướng cầu T. Khi đến đoạn đường T, thuộc khu phố A phường T, thị xã T tỉnh Bình Dương Kh điều khiển xe ô tô vượt qua xe mô tô biển số 84K1-262.20 do bà Phạm Thị Kim Ph điều khiển lưu thông cùng chiều phía trước. Trong lúc vượt Kh không đảm bảo an toàn nên mặt ngoài lốp bánh xe phía trước bên phải của xe ô tô va chạm vào mặt ngoài bên trái dè chắn bùn trước xe mô tô của bà Ph làm xe mô tô và bà Ph ngã xuống đường dẫn đến bà Ph tử vong.
Tại Kết luận giám định pháp y tử thi số 778/GĐPY ngày 07/10/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: nguyên nhân chết của nạn nhân Phạm Thị Kim Ph do choáng đa chấn thương chấn thương b ng - khung chậu gây dập thận bàng quang buồng trứng dập rách bó mạch thần kinh bẹn đùi gãy khung chậu cổ xương đùi phải.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 121/2020/HS-ST ngày 25 tháng 6 năm 2020 của Tòa án nhân dân thị xã T tỉnh Bình Dương đã quyết định:
Căn cứ điểm a khoản 1 và khoản 5 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; các Điều 38 41, 46 và 47 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên xử:
1. Về tội danh: tuyên bố bị cáo Lê Duy Kh phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Về hình phạt chính: xử phạt bị cáo Lê Duy Kh 02 (hai) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt thi hành án.
3. Về hình phạt bổ sung: cấm bị cáo Lê Duy Kh hành nghề lái xe ô tô trong thời hạn 02 (hai) năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.
Bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 26/6/2020 bị cáo Lê Duy Kh làm đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa trình bày quan điểm giải quyết v án: xác định tội danh điều luật mà Tòa án cấp sơ thẩm xét xử và áp d ng đối với bị cáo Kh là có căn cứ đúng người đúng tội. Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Xét thấy năm 2016 bị cáo đã bị kết án về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” đến nay lại tiếp t c phạm tội này thể hiện sự cẩu thả khi tham gia giao thông và thái độ xem thường pháp luật. Tuy bị cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ có cha là thương binh 2/4 mà Tòa án cấp sơ thẩm không áp d ng cho bị cáo nhưng nhận thấy mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt đối với bị cáo là phù hợp. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và giữ nguyên kháng cáo.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm được hòa nhập cộng đồng.
NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ s nội dung v án căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo của bị cáo Lê Duy Kh thực hiện trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương giải quyết v án theo thủ t c phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Kh đã khai nhận hành vi phạm tội thống nhất như nội dung bản án sơ thẩm và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ. Do đó có đủ cơ s xác định: ngày 05/10/2019 bị cáo Lê Duy Kh điều khiển xe ô tô tải biển số 61C-368.18 lưu thông trên đoạn đường T, thuộc khu phố A phường T, thị xã T tỉnh Bình Dương vượt xe không đảm bảo an toàn dẫn đến va chạm với xe mô tô biển số 84K1-262.20 do bà Phạm Thị Kim Ph điều khiển đang lưu thông cùng chiều phía bên phải hậu quả làm bà Ph tử vong.
Hành vi của bị cáo Kh là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại đến tính mạng và và tài sản của bị hại gây tâm lý bất an cho những người tham gia giao thông ảnh hư ng đến tình hình an toàn giao thông đường bộ tại địa phương. Bị cáo có đầy đủ năng lực để nhận thức được hành vi vượt xe có thể gây nguy hiểm cho xã hội nhưng do ý thức chủ quan cẩu thả nên đã gây ra v tai nạn làm bà Phượng tử vong. Như vậy hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự nên Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Đối với kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
Năm 2016 bị cáo đã bị kết án về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” nhưng bị cáo vẫn không xem đó là bài học để rút kinh nghiệm cho bản thân mà vẫn tiếp t c có hành vi lái xe cẩu thả gây tai nạn thể hiện ý thức xem thường pháp luật.
Tuy nhiên tại cấp sơ thẩm bị cáo cung cấp tình tiết có cha là thương binh hạng 2/4 nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không áp d ng tình tiết giảm nhẹ này cho bị cáo nên Tòa án cấp phúc thẩm áp d ng. Do bị cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ nên có căn cứ giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[4] Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo giữ nguyên bản án sơ thẩm là chưa phù hợp.
[5] Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
[6] Án phí hình sự phúc thẩm: do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT Đ NH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 của Bộ luật Tố t ng hình sự năm 2015,
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Duy Kh. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 121/2020/HS-ST ngày 15 tháng 6 năm 2020 của Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dương.
Áp d ng điểm a khoản 1 và khoản 5 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; các Điều 38, 41 của Bộ luật Hình sự.
1.1. Về tội danh: xử phạt bị cáo Lê Duy Kh 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.
1.2. Về hình phạt bổ sung: cấm bị cáo Lê Duy Kh hành nghề lái xe ô tô trong thời hạn 02 (hai) năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.
2. Án phí hình sự phúc thẩm: áp d ng Điều 135 khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố t ng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý và sử d ng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Lê Duy Kh không phải nộp.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Dương; 1 - TAND thị xã T; 2 - VKSND thị xã T; 1 - Chi c c THADS thị xã T; 2 - Phòng PV06 Công an tỉnh BD; 1 - Công an thị xã T; 2 - S Tư pháp tỉnh Bình Dương; 1 - Trại Tạm giam Công an tỉnh BD; 1 - Bị cáo; 1 - Tổ Hành chính Tư pháp; 2 - Lưu: HSVA, Tòa HS. 2 THẨM PHÁN THÀNH VIÊN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Bùi Ngọc Thạch THẨM PHÁN CHỦ TỌA Bùi Ngọc Thạch |