vanban.org

Bản án 124/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La Tuyên án 31/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1- Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn K phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Lò Văn K 30 (ba mươi) tháng tù - Thời hạn thụ hình tính từ ngày 22/06/2019. 2- Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn Kiêm mua bán chất ma tuý - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1- Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn K phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG MÃ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH SƠN LA
Bản án số: 124/2019/HSST
Ngày 31 tháng 10 năm 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Bá Toàn

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Thành Vân

2. Ông Lò Văn Thôn

- Thư ký phiên toà:

Bà Hà Thị Điệp - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên toà:

Ông Hoàng Văn Viên - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 10 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 107/2019/TLST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 111/2019/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lò Văn K - Sinh năm 1966; Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Bản M, xã M, huyện S, Sơn La; Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 7/10; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông Lò Văn D, con bà Bạc Thị Ỏ; Bị cáo có vợ là Quàng Thị O và có 04 con (lớn nhất sinh 1990, nhỏ nhất sinh 2003). Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Năm 2007 bị TAND tỉnh Sơn La xử phạt 42 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Năm 2013 bị TAND huyện Sông Mã xử phạt 48 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, giam từ ngày 22/6/2019 cho đến nay. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 30 ngày 22/6/2019 tại bản Mường Nưa, xã Mường Lầm, huyện Sông Mã, Tổ công tác Đồn Công an Mường Lầm đã phát hiện, bắt quả tang Lò Văn K đang có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Giàng Bua S. Vật chứng thu giữ gồm: Thu tại túi áo ngực bên trái của S đang mặc 01 gói túi nilon màu xanh, bên trong có chứa 01 mảnh viên nén màu hồng (S khai nhận là Hồng phiến) vừa mua được của Lò Văn K; thu của Lò Văn K 01 túi nilon màu xanh, bên trong có chứa 01 viên nén màu hồng do K tự nguyện đi lấy ở gầm sàn nhà đem giao nộp (K khai nhận là Hồng phiến), thu tại túi quần bên phải K đang mặc số tiền 50.000đ, K khai nhận là tiền vùa bán ma túy cho S.

Ngày 23/6/2019 tại phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, đã tiến hành cân tịnh để xác định khối lượng vật chứng và trích mẫu giám định, kết quả: Cân tịnh 01 mảnh viên nén màu hồng nghi là Hồng phiến thu của Giàng Bua S có khối lượng 0,02 gam, đã sử dụng hết làm mẫu giám định lấy ký hiệu S; cân 01 viên nén màu hồng nghi là Hồng phiến thu của Lò Văn K có khối lượng 0,10 gam đã sử dụng hết làm mẫu giám định lấy ký hiệu là K.

Tại bản kết luận giám định số 1168 ngày 26/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu S, K đều là Ma túy; loại Methamphetamine; tổng khối lượng mẫu gửi giám định là 0,12 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ được là 0,12 gam; lọa Methamphetamine.

Tại bản kết luận giám định số 1209 ngày 02/7/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: 01 (một) tờ tiền VNĐ mệnh giá 50.000 đồng có số mã hiệu: SU 14416210 là tiền thật.

Quá trình điều tra Lò Văn K khai nhận: Khoảng 11 giờ 30 ngày 20/6/2019 sau khi đi viếng đám ma ở bản Nộc Cốc, xã Đứa Mòn, trên đường về nhà đến cuối bản K gặp và hỏi mua được của một người đàn ông người Mông 02 viên Hồng phiến với giá 40.000đ, mua bán xong K nhặt lấy mảnh túi nilon màu xanh ở đường gói lại cất để trong túi áo. Đến nhà K lấy ra 01 viên bẻ ra làm 02 mảnh rồi sử dụng hết 01 mảnh, 01 mảnh cất để trong túi quần đang mặc, còn lại 01 viên vẫn gói để trong túi nilon màu xanh và đem cất giấu để dưới gầm sàn nhà. Đến khoảng 11 giờ ngày 22/6/2019 thì có Giàng Bua S ở bản Pá Khoang, xã Bó Sinh, huyện Sông Mã đến hỏi mua Hồng phiến, K đã bán cho S 01 mảnh lấy 50.000đ, khi vừa mua bán xong thì bị Tổ công tác Đồn Công an Mường Lầm đến kiểm tra, phát hiện.

Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số 108/CT-VKSSM ngày 06 tháng 9 năm 2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đã truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Sông Mã để xét xử Lò Văn K về tội Mua bán trái phép chất ma tuý theo khoản 1 Điều 251 BLHS.

Tại phiên toà kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý, áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS xử phạt từ 24 - 30 tháng tù; Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy số vật chứng liên quan; tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 50.000đ. Buộc bị cáo chịu án phí theo quy định.

Tại phiên tòa khi được nói lời sau cùng bị cáo thừa nhận hành vi của mình đã vi phạm pháp luật, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Sông Mã, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về các chứng cứ xác định tội danh: Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau:

- Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập vào hồi 11h40’ngày 22/6/2019, bắt quả tang Lò Văn K có hành vi bán chất ma tuý cho Giàng Bua S và cất dấu 01 viên nén màu hồng nghi là ma tuý;

- Vật chứng bị thu giữ gồm 01 mảnh viên nén màu hồng, 01 viên nén màu hồng và số tiền 50.000đ; Kết luận giám định số 1168/KLMT ngày 26/6/2019 và số 1209 ngày 02/7/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công tỉnh Sơn La, kết luận số vật chứng đã thu của Kiêm và Sệnh.

- Lời khai nhận tội của bị cáo về thời gian, địa điểm, diễn biến việc thực hiện tội phạm.

- Lời khai của Giàng Bua S về việc ngày 22/6/2019 Sệnh đến nhà K để mua ma tuý và đã được K bán cho 01 mảnh viên Hồng phiến với số tiền 50.000đ.

Tại phiên toà bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi, bị cáo vẫn giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án và hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc bị cáo đã thực hiện. Như vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 BLHS là có căn cứ.

Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 20/6/2019 Lò Văn K đã mua được 02 viên Hồng phiến, đã sử dụng hết khoảng ½ viên (01 mảnh); Đến khoảng 11 giờ ngày 22/6/2019 đã bán cho Giàng Bua S ở bản Pá Khoang, xã Bó Sinh, huyện Sông Mã khoảng ½ viên (01 mảnh) lấy 50.000đ, thì bị tổ công tác Đồn Công an Mường Lầm phát hiện bắt quả tang. Khối lượng ma tuý bị thu giữ là 0,12 gam loại chất Methamphetamine và số tiền 50.000đ.

Hành vi bị cáo thực hiện đã phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, bị cáo nhận thức được việc mua bán chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng đã bất chấp pháp luật cố tình thực hiện tội phạm, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương, là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, gây bức xúc trong xã hội.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo đã tự nguyện giao nộp số ma túy đang cất giấu nên thuộc trường hợp tự thú - Là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s, r khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo có nhân thân xấu đã hai lần bị đưa ra xét xử về tội liên quan đến ma tuý; do vậy cần căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, khối lượng ma túy bị cáo mua bán và nhân thân của bị cáo để quyết định một mức hình phạt phù hợp, nhằm trừng phạt, cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật, răn đe, phòng ngừa và thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý tại địa phương.

Về hình phạt bổ sung: Cơ quan điều tra đã làm rõ gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Cần tịch thu tiêu hủy số vật chứng liên quan và tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 50.000đ.

Về vấn đề khác liên quan đến vụ án: Đối với người đàn ông người Mông bị cáo khai đã bán ma tuý cho bị cáo, quá trình điều tra, xác minh không xác định được nhân thân, lai lịch của người đó, do vậy không có căn cứ để xử lý.

Đối với Giàng Bua S có hành vi mua 0,02 gam Methamphetemine của bị cáo nhằm mục đích để sử dụng. Quá trình điều tra xác định Sệnh chưa có tiền án, tiền sự về tội phạm ma túy nên cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Mã đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s, r khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:

1- Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn K phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Lò Văn K 30 (ba mươi) tháng tù - Thời hạn thụ hình tính từ ngày 22/06/2019.

2- Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) vỏ túi nilon màu xanh, 01 (một) mảnh nilon màu xanh, 01 (một) vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở (các vật chứng được đựng trong 01 phong bì thư còn nguyên niêm phong).

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 50.000đ (năm mươi ngàn đồng).

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/9/2019 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Mã).

3- Về án phí: Căn cứ Điều 136 BLTTHS; Các Điều 21, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

Buộc bị cáo chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 31/10/2019./.

Cỡ chữ