- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn Tr - Lý Duy Th - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt : Hoàng Văn Tr 16 (mười sáu) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:124/2019/HS-ST Ngày 08/05/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tô Thanh Tú
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Anh Thư
2. Bà Phạm Thị Trinh
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Mai Anh, Thư ký Tòa án nhân dân Quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuận - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 05 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 147/2019/HS-ST ngày 22/04/2019 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 135/QĐXX-ST ngày 22/04/2019 đối với các bị cáo:
1.Hoàng Văn Tr (tên gọi khác: không), sinh năm 1984 tại tỉnh Yên Bái; Nơi thường trú: thôn L, xã Y, huyện L, tỉnh Yên Bái; Chỗ ở: không cố định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Con ông Hoàng Văn N và bà Lò Thị V; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị L; bị cáo có 01 con sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Có 03 tiền sự: Năm 2004 đi cai nghiện bắt buộc 12 tháng; năm 2008 đi cai nghiện bắt buộc 12 tháng; năm 2013 đi cai nghiện bắt buộc 24 tháng; Bị cáo bị bắt quả tang ngày 02/1/2019; tạm giam ngày 12/1/2019. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số II Công an thành phố Hà Nội; Có mặt tại phiên tòa.
2. Lý Duy Th (tên gọi khác: không), sinh năm 1984 tại tỉnh Yên Bái; Nơi thường trú: thôn N, xã L, huyện L, tỉnh Yên Bái; Chỗ ở: Không cố định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Con ông Lý Đạt L và bà Nông Thị Đ; bị cáo có vợ là Hoàng Thị P (đã ly hôn); bị cáo không có con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Có 03 tiền sự: Năm 2008 đi cai nghiện bắt buộc 12 tháng; năm 2013 đi cai nghiện bắt buộc 12 tháng; năm 2016 đi can nghiện bắt buộc 24 tháng; Bị cáo bị bắt quả tang ngày 02/1/2019; tạm giam ngày 12/1/2019. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số II Công an thành phố Hà Nội; Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 00 phút, ngày 02/1/2019 tại trước cửa nhà số 1, phố Sở Thượng, phường Yên Sở, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội, tổ công tác liên phòng công an thành phố Hà Nội phối hợp với công an phường Yên Sở bắt quả tang Hoàng Văn Tr và Lý Duy Th có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ bên trong ví của Th 01 gói nhỏ bọc giấy màu xanh, kích thước 01 x 01 cm, bên trong chứa chất bột màu trắng. Tại chỗ, Th và Tr khai nhận chất bột màu trắng trong gói nhỏ công an thu giữ là ma túy, loại heroin, Th và Tr chung tiền nhau mua về để cùng sử dụng. Ngoài ra, cơ quan công an còn thu giữ của Tr 01 chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA TAURUS BKS: 21 C1 – 045.41 đã qua sử dụng và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen đã qua sử dụng. Thu giữ của Th 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu ghi xám đã qua sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản, thu giữ tang vật và đưa các đối tượng về trụ sở làm rõ.
Tại cơ quan Công an, Hoàng Văn Tr và Lý Xuân Th khai nhận: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 02/1/2019 Th đang ở nhà tại số 82 phố Trung Kinh, phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội thì Hoàng Văn Tr gọi điện thoại rủ Th đi mua ma túy về sử dụng chung. Th đồng ý nên Tr đi xe máy đến đón Th cùng đi mua ma túy. Th và Tr mỗi người góp 150.000 đồng để mua ma túy. Khi Th và Tr đi đến khu vực đầu ngõ 433 phố Kim Ngưu, phường Vĩnh Tuy, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội thì Th xuống xe, trực tiếp mua ma túy của một phụ nữ không quen biết 01 gói heroin với giá 300.000 đồng. Sau khi mua xong, Th và Tr cùng nhau đi sử dụng hết một phần gói ma túy còn lại một phần thì Th cất vào trong ví, để trong túi áo khoác ngoài bên phải Th đang mặc. Sau đó, Th và Tr cùng nhau đi xe máy ra về, khi đi đến trước cửa nhà số 1 phố Sở Thượng, phường Yên Sở, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội thì bị cơ quan công an phát hiện, bắt giữ.
Theo bản kết luận giám định số 204/KLGĐ-PC09 ngày 09/01/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội giám định kết luận: chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy màu xanh – trắng là ma túy loại Heroin, khối lượng 0,109 gram.
Ngày 02/1/2019, cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận Hoàng Mai đã tiến hành dẫn giải Hoàng Văn Tr, Lý Duy Th, xác định được vị trí Th và Tr mua ma túy tại khu vực đầu ngõ 433 phố Kim Ngưu, phường Vĩnh Tuy, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội nhưng không xác định được người phụ nữ đã bán ma túy cho Thanh, Trà nên cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận Hoàng Mai không có căn cứ để xử lý.
Đối với 02 chiếc điện thoại di động thu giữ của Hoàng Văn Tr và Lý Duy Th, các bị cáo khai báo dùng để liên lạc cá nhân và liên lạc rủ nhau đi mua ma túy về sử dụng chung.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA TAURUS BKS: 21 C1 – 045.41, đăng ký chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị N (sinh năm 1979; trú tại: thôn L, xã Y, huyện L, tỉnh Yên Bái). Chị N khai chị mua xe máy và đăng ký năm 2012, sử dụng đến tháng 04/2016 thì bán lại cho Hoàng Văn Tr. Hoàng Văn Tr khai chiếc xe máy là của bị cáo, mua của chị N là người cùng làng từ năm 2016, dùng để làm phương tiện đi lại.
Tại bản cáo trạng số 148/CT-VKSHM ngày 16/4/2019 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai truy tố Hoàng Văn Tr và Lý Duy Th về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo đã kết luận giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản Cáo trạng.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điều 38; 47; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Tr từ 14 đến 18 tháng tù.
Xử phạt bị cáo Lý Duy Th từ 12 đến 16 tháng tù.
Miễn phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo.
Tịch thu tiêu hủy 01 bao niêm phong bên trong có chứa 0,109 gram Heroin.
Tịch thu, phát mại sung quỹ Nhà nước 02 chiếc điện thoại di động thu giữ của bị cáo Th và Tr.
Tịch thu, phát mại, sung quỹ Nhà nước 01 chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA TAURUS BKS: 21 C1 – 045.41 thu giữ của bị cáo Tr.
Tại phiên tòa các bị cáo Hoàng Văn Tr, Lý Duy Th khai nhận như đã khai tại cơ quan điều tra, các bị cáo thừa nhận ngày 02/1/2019 các bị cáo đã có hành vi tàng trữ 0,109 gram heroin để cùng sử dụng chung. Các bị cáo thừa nhận Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng hành vi mà các bị cáo đã thực hiện.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đãđược tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hoàng Mai, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Hồi 15 giờ 00 phút, ngày 02/1/2019 tại trước cửa nhà số 1, phố Sở Thượng, phường Yên Sở, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội Hoàng Văn Tr và Lý Duy Th đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,109 gram heroin để cùng sử dụng. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi ma tuý là chất độc dược huỷ hoại sức khoẻ con người và gây tác hại xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội, là nguồn gốc gây nên nhiều tội phạm khác. Các bị cáo là người đã trưởng thành, đã lập gia đình, đã được đưa đi cai nghiện bắt buộc nhiều lần, hoàn toàn nhận thức được tác hại của ma túy, nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Hành vi đó của các bị cáo đã xâm phạm chế độ quản lý độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm trật tự công cộng. Xét nhân thân cả hai bị cáo đều có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện ma túy, đã được đưa đi áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc nhiều lần nhưng vẫn tiếp tục tái nghiện. Vì vậy, cần tiếp tục cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian bằng hình phạt tù nghiêm khắc nhằm mục đích giáo dục, răn đe, tạo điều kiện cho các bị cáo cai nghiện ma túy và phòng ngừa chung trong cộng đồng.
Vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn. Bị cáo Tr là người chủ động rủ bị cáo Th đi mua ma túy, bị cáo Th là người trực tiếp cầm tiền, giao dịch mua ma túy. Số tiền góp mua ma túy sử dụng chung của hai bị cáo là bằng nhau. Vì vậy, mức hình phạt áp dụng đối với hai bị cáo là ngang nhau.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Th và bị cáo Tr không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra, các bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn, hối cải nên cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập, nên miễn phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- Heroin là chất ma túy bị cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy 01 bao niêm phong bên trong có chứa 0,109 gam heroin.
- 02 chiếc điện thoại di động thu giữ của các bị cáo được dùng để liên lạc, rủ nhau đi mua ma túy, là phương tiện liên quan đến việc phạm tội nên cần tịch thu, phát mại, sung quỹ Nhà nước.
- 01 chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA TAURUS BKS: 21 C1 – 045.41 thu giữ của bị cáo Hoàng Văn Tr được dùng để đi mua ma túy, là phương tiện liên quan đến việc phạm tội nên cần tịch thu, phát mại, sung quỹ Nhà nước.
Các bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt : Hoàng Văn Tr 16 (mười sáu) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày 02/1/2019.
Xử phạt : Lý Duy Th 16 (mười sáu) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày 02/1/2019.
Hình phạt bổ sung: Miễn phạt tiền đối với các bị cáo.
* Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015.
- Tịch thu tiêu hủy 01 bao niêm phong bên trong có chứa 0,109 gam heroin.
- Tịch thu, phát mại, sung quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen, số IMEI1: 866977039805017, số IMEI2: 866977039805009; 01 xe máy nhãn hiệu YAMAHA TAURUS 16S4, màu nâu bạc, biển số: 21 C1-04541, số khung: RLCS16S40BY 023096, số máy: 16SB-030050 thu giữ của Hoàng Văn Tr.
- Tịch thu, phát mại, sung quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 1280, màu đen tím, số IMEI: 352434059058326 thu giữ của Lý Duy Th.
Hiện các vật chứng trên đang được lưu giữ tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàng Mai theo Phiếu nhập kho số NK2019-00172 ngày 17/4/2019.
* Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Mục I Danh mục án phí, lệ phí Tòa án năm 2009; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 3/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
* Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331; 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND Q. Hoàng Mai, Hà Nội; - Công an Q. Hoàng Mai, Hà Nội; - Thi hành ánQ. Hoàng Mai, Hà Nội; - Sở tư pháp TP Hà Nội; - Bị cáo; Trại tạm giam Công an TP Hà Nội; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tô Thanh Tú |