- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi Văn S.. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về điều luật áp dụng và tội danh: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Vi Văn S (tên gọi khác Vi Văn M): 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 09/7/2019.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KS TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 124/2019/HS-ST Ngày: 23-10-2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KS, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vương Hoàng Hào
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Và Bá Cải
Bà Cụt Thị Hợi
- Thư ký phiên tòa: Bà Vi Thị Khuyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện KS, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện KS, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Anh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện KS, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 116/2019/TLST-HS, ngày 25 tháng 9 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 134/2019/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2019 đối với:
Bị cáo: Vi Văn S. Tên gọi khác: Vi Văn M. Sinh năm 1993 tại xã ML, huyện KS, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Bản Hòa Lý, xã ML, huyện KS, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vi Văn N và bà Vi Thị Túc; Có vợ họ và tên: Hồ Thị Ỏn và 01con, sinh năm 2014; tiền sự, tiền án: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/7/2019 cho đến nay. Có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Vi Văn N. Sinh năm 1966. Nơi cư trú: Bản Hòa Lý, xã ML, huyện KS, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
Người chứng kiến: Anh Cụt Văn Thuyên. Sinh năm 1986. Nơi cư trú: Bản Huồi Cáng 2, xã Bắc Lý, huyện KS, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 07 giờ 30 phút ngày 09/7/2019, Vi Văn S (tên gọi khác Vi Văn M) điều khiển xe máy nhãn hiệu Suzuki màu xanh, biển kiểm soát 37L2-7890 của ông Vi Văn N đi từ nhà đến bản Nhọt Kho, xã Bắc Lý, huyện KS, tỉnh Nghệ An. Tại đây, Sớ gặp một người đàn ông không quen biết và nhờ người này mua ma túy giúp với số tiền 100.000 đồng (Một trăm nghìn). Người đàn ông này đi mua giúp ma túy cho Sớ. Sau khi mua được ma túy (heroine) Sớ điều khiển xe đi về nhà đến khu vực bản Huồi Cáng 1, xã Bắc Lý, huyện KS thì bị Công an huyện KS bắt quả tang vào khoảng 10 giờ cùng ngày.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại vào ngày 10/7/2019 đã xác định: Mẫu chất màu trắng gói trong bao potylen thu giữ của Vi Văn S (tên gọi khác Vi Văn M) có khối lượng 0,1 gam (Không phẩy một). Hội đồng đã trích 0,05 gam (Không phẩy không năm) để gửi đi giám định.
Tại bản kết luận giám định số 1029/KL-PC09(MT), ngày 13/7/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Mẫu chất màu trắng thu giữ của Vi Văn S (tên gọi khác Vi Văn M) gửi tới giám định là ma túy (Heroine).
Cáo trạng số 123/CT-VKS-HS ngày 24/9/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện KS, tỉnh Nghệ An truy tố Vi Văn S (tên gọi khác Vi Văn M) về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung cáo trạng, luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Vi Văn S (tên gọi khác Vi Văn M) mức án từ 12 đến 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: 01 (Một) phong bì bưu điện viền xanh đỏ, được dán kín, trên mép dán có đầy đủ chữ ký của hội đồng tham gia niêm phong và chữ ký của bị cáo Vi Văn S (tên gọi khác: Vi Văn M) bên trong chứa số ma túy (Heroine) có khối lượng còn lại là 0,05 gam (không phẩy không năm) cùng vỏ giấy niêm phong ban đầu là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu và tiêu hủy; Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Vi Văn S (tên gọi khác Vi Văn M) đồng ý với nội dung bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không có tranh luận gì. Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện KS, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện KS, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Về việc vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, tuy nhiên xét thấy không ảnh hưởng đến việc xét xử nên căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Vi Văn S (tên gọi khác Vi Văn M) đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 09/7/2019, tại khu vực bản Huồi Cáng 1, xã Bắc Lý, huyện KS, tỉnh Nghệ An, Vi Văn S (tên gọi khác Vi Văn M) đã có hành vi tàng trữ trái phép ma túy (Heroine), có khối lượng 0,1 gam (không phẩy một) với mục sử dụng bản thân là con nghiện thì bị Công an huyện KS phát hiện và bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm quy định về quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo nhận thức được ma túy là chất Nhà nước cấm tàng trữ, mua bán, vận chuyển vì ma túy không những gây tác hại xấu đến đời sống kinh tế xã hội cũng như sức khỏe của con người mà còn là mầm mống phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Chỉ vì thỏa mãn cơn nghiện cho bản thân mà bị cáo bất chấp pháp luật. Vì vậy, cần lên một mức án nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, do đó khi quyết định hình phạt nên xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo là có căn cứ.
Về xử lý vật chứng: 01 (Một) phong bì bưu điện viền xanh đỏ, được dán kín, trên mép dán có đầy đủ chữ ký của hội đồng tham gia niêm phong và chữ ký của bị cáo Vi Văn S (tên gọi khác Vi Văn M), bên trong chứa số ma túy (Heroine) có khối lượng còn lại là 0,05 gam cùng vỏ giấy niêm phong ban đầu là vật cấm tàng trữ, lưu hành cần tịch thu và tiêu hủy.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Suzuki màu xanh, biển kiểm soát 37L2-7890 của ông Vi Văn N mà bị cáo sử dụng đi mua ma túy, cơ quan điều tra làm rõ không liên quan đến hành vi phạm tội nên đã trả lại cho chủ sở hữu là đúng quy định của pháp luật.
Đối với người đàn ông đã mua hộ ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra, xác minh không xác định được tên tuổi, địa chỉ, danh tính, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra khi nào có kết quả sẽ xử lý sau là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về điều luật áp dụng và tội danh: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Vi Văn S (tên gọi khác Vi Văn M): 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 09/7/2019.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu và tiêu hủy: 01 (Một) phong bì bưu điện viền xanh đỏ, được dán kín, trên mép dán có đầy đủ chữ ký của hội đồng tham gia niêm phong và chữ ký của bị cáo Vi Văn S (tên gọi khác Vi Văn M), bên trong chứa số ma túy (Heroine) có khối lượng còn lại là 0,05 gam (không phẩy không năm) cùng vỏ giấy niêm phong ban đầu.
(Đặc điểm, tình trạng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/9/2019 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện KS và Chi cục Thi hành án dân sự huyện KS tỉnh Nghệ An).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Vi Văn S (tên gọi khác Vi Văn M) phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Vi Văn S (tên gọi khác Vi Văn M) có quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Ông Vi Văn N có quyền kháng cáo trong phạm vi quyền nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; [ơ - VKSND huyện KS; - Chi cục THADS huyện KS; - Công an huyện KS; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án; VP.TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Vƣơng Hoàng Hào |