vanban.org

Bản án 124/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Phủ Lý, tỉnh Hà Nam Tuyên án 19/09/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn Đ phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!
THÀNH!PHỐ!PHỦ!LÝ!
!!!!!!TỈNH!HÀ!NAM!

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 124/2018/HS-ST
Ngày 19-9-2018

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

!!!!TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!PHỦ!LÝ!-!TỈNH!HÀ!NAM!

!

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Thanh Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Chí Trung.

2. Ông Trịnh Văn Chi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý tham gia phiên tòa: Ông Phạm Sỹ Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 117/2018/TLST-HS ngày 30/8/2018 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 120/2018/QĐXXST-HS ngày 07/9/2018 đối với bị cáo:

Trần Văn Đ, sinh năm 1979 tại thành phố Hà Nội; Nơi ĐKHKTT, chỗ ở: Thôn Đ, xã Đ, huyện M, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn B và bà Hoàng Thị N; có vợ là Lê Thị T, sinh năm 1980 và 02 con, lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2004; tiền án: Ngày 17/01/2012 bị Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội xử phạt 10.000.000 đồng về tội:“Đánh bạc”(chưa chấp hành xong bản án); tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 30/10/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội xử phạt 36 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”(chấp hành xong hình phạt ngày 29/02/2016); bị bắt, tạm giữ ngày 18/6/2018, tạm giam từ ngày 21/6/2018 đến nay; có mặt.

- Người làm chứng: Ông Nguyễn Anh H, sinh năm 1974; trú tại: LC, phường L, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

!

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 18/6/2018, Trần Văn Đ đang hái quả sấu thuê tại thị trấn Quế, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam thì gặp hai người thanh niên, một người khoảng 35 tuổi, người kia khoảng 30 tuổi (không rõ lai lịch). Trong lúc nói chuyện, người thanh niên 35 tuổi nói với Đ:“Có tiền không đưa em, mình cùng đi chơi”, Đ hiểu ý người thanh niên này nói góp tiền mua ma túy để sử dụng nên lấy trong người ra số tiền 50.000 đồng đưa cho người thanh niên. Sau đó Đ cùng hai người thanh niên đi xe môtô đến thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam để tìm mua ma túy. Khi đi đến khu vực thuộc tổ 10, phường Trần Hưng Đạo, thành phố Phủ Lý thì người thanh niên 35 tuổi bảo Đ và người thanh niên 30 tuổi xuống xe đứng đợi rồi điều khiển xe môtô đi tiếp, người thanh niên 30 tuổi đứng một lúc rồi bỏ đi, một lát sau người thanh niên 35 tuổi quay lại đưa cho Đ một vỏ bao thuốc lá Thăng Long và nói:“Anh cầm bao thuốc, hàng ở trong đó”. Biết trong vỏ bao thuốc lá có ma túy nên Đ cầm đút vào túi áo ngực rồi ngồi sau xe môtô cùng người thanh niên 35 tuổi đi được một đoạn thì bị lực lượng cảnh sát giao thông Công an tỉnh Hà Nam đang làm nhiệm vụ phát hiện có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Lợi dụng sự sơ hở, người thanh niên 35 tuổi điều khiển xe môtô bỏ chạy thoát còn Đ tự nguyện lấy giao nộp cho lực lượng công an vỏ bao thuốc lá Thăng Long bên trong có 02 gói giấy bạc màu vàng đồng thời khai nhận đó là ma túy, cất giấu để sử dụng.

Vật chứng, tài sản thu giữ của Trần Văn Đ gồm: 02 gói giấy bạc màu vàng bên trong các gói đều chứa chất bột màu trắng dạng cục đựng trong một vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đỏ - đen.

Tại bản Kết luận giám định số 102/PC54-MT ngày 20/6/2018, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam kết luận: “Mẫu bột màu trắng dạng cục bên trong 02 gói giấy bạc màu vàng niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,155 gam, loại Heroine. Heroine là chất ma túy nằm trong Danh mục I, STT 09 Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/05/2018 của Chính phủ”.

Bản cáo trạng số 128/CT-VKS- PL ngày 29/8/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý truy tố Trần Văn Đ về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm không thay đổi, bổ sung về nội dung đã truy tố đối với bị cáo Trần Văn Đ, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, các điểm s, v khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015:

- Xử phạt Trần Văn Đ từ 30 tháng đến 36 tháng tù.

- Xử lý vật chứng của vụ án theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã truy tố. Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

!

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!

!

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Đối với người tham gia tố tụng là người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ, được cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[3] Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với các chứng cứ của vụ án như biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng, kết luận giám định về chất ma túy, lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ của vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 18/6/2018, tại khu vực tổ 10, phường Trần Hưng Đạo, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam, Trần Văn Đ bị lực lượng cảnh sát giao thông Công an tỉnh Hà Nam bắt giữ quả tang khi đang tàng trữ trái phép 0,155 gam Heroine, mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có nhân thân xấu do đã có một tiền án về tội:“Đánh bạc” chưa được xóa án tích; tiền sử bản thân là người nghiện ma túy, đã từng bị kết án về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”(đã được xóa án tích).

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là “tái phạm” do phạm tội khi chưa được xóa án tích đối với tội:“Đánh bạc” bị Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội kết án ngày 17/01/2012.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự và năm 1996 đã hoàn thành tốt nhiệm vụ và được tặng giấy khen nên sẽ được hưởng các tình tiết giảm nhẹ pháp luật quy định.

[5] Về hình phạt chính, hình phạt bổ sung:

Hình phạt chính: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, mức độ nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy và các chất gây nghiện trực tiếp là các hoạt động cất giữ, tàng trữ chất ma túy, gây mất trật tự, an toàn cho xã hội, làm nảy sinh tệ nạn ma túy là mầm mống, nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác. Vì vậy, cần có mức án nghiêm khắc, tương xứng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm bị cáo đã thực hiện và nhân thân xấu của bị cáo để giáo dục, răn đe và nâng cao hiệu quả đấu tranh, phòng ngừa chung.

Hình phạt bổ sung: Do bị cáo là người mới chấp hành xong hình phạt tù, bản thân không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền, tịch thu tài sản…) đối với bị cáo.

[6] Đối với hai người đàn ông đã đi cùng Trần Văn Đ từ thị trấn Quế, huyện Kim Bảng đến thành phố Phủ Lý để mua ma túy, do Cơ quan điều tra không xác định được đặc điểm nhân thân, địa chỉ của những người này nên chưa có cơ sở để xem xét, xử lý là có căn cứ.

[7] Về vật chứng và xử lý vật chứng đã thu giữ:

+ Đối với chiếc điện thoại di động Samsung thu giữ của Trần Văn Đ, cơ quan điều tra đã làm rõ đây là tài sản hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên sẽ xem xét trả lại cho bị cáo.

+ Đối với toàn bộ số Heroine hoàn trả sau giám định cùng bao gói và 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long sẽ tịch thu, tiêu hủy.

[8] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT!ĐỊNH:!

!

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, các điểm s, v khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 và Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015:

Tuyên bố bị cáo Trần Văn Đ phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/6/2018.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

- Trả lại cho bị cáo Trần Văn Đ 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung đã cũ, màu đỏ - đen, có số IMEI: 3518824053244016.

- Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì đã niêm phong mặt trước ghi: “Mẫu vật hoàn trả QT01”, số 102/PC54-MT có chữ ký và dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam và 01 (một) vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng.

Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố Phủ Lý và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý ngày 30/8/2018.

3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Trần Văn Đ nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ