vanban.org

Bản án 124/2017/HSST — Hình sự

TAND TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình Tuyên án 07/08/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "LÊ THỊ THANH T - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Căn cứ chính? Điều 33 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI BÌNH
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Án số: 124/2017/HSST
Ngày 07 tháng 8 năm 2017

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Bà Nguyễn Thị Xuân Huyền

Hội thẩm nhân dân:

- Ông Vũ Tiến Thịnh

- Bà Đặng Thị Việt Hoài

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Vũ Quốc Khánh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Bình.

Kiể m sá t viên tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Kim Dung - Kiểm sát viên sơ cấ p Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình.

Hôm nay, ngày 07 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 111/2017/HSST ngà y 07 tháng 7 năm 2017, Quyế t đị nh đưa vụ án ra xét xử số 131/2017/QĐXX-ST ngà y 24 tháng 7 năm 2017, đố i vớ i bị cáo:

Họ và tên: LÊ THỊ THANH T – Sinh ngày 09/12/1995

Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: thôn P, xã T, huyện T, tỉnh T.

Trình độ văn hóa: 09/12;

Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Con ông: Lê Bá T, sinh năm 1965; Con bà: Hà Thị C, sinh năm 1968.

Gia đì nh có 04 chị em, bị cáo là con thứ hai.

Có 01 con, sinh năm 2013. Hiện đang ở với bố mẹ đẻ của bị cáo.

* Tiền án, Tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/6/2017 đến ngày 07/6/2017 chuyể n tạ m giam đến nay. Hiệ n bị cá o đang bị tạ m giam tạ i Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Ngườ i làm chứng:

- Anh Bùi Văn Q, sinh năm 1992; Trú tại: thôn Ô, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình. (Vắ ng mặ t)

- Bà Bùi Thị H, sinh năm 1955; Trú tại: Số nhà 85, tổ 3, phường B, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. (Vắ ng mặ t)

NỘ I DUNG VỤ Á N:

Theo cá c tà i liệ u có trong hồ sơ vụ á n và diễ n biế n tạ i phiên tò a, nộ i dung vụ á n đượ c tó m tắ t như sau:

Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 31/5/2017, Lê Thị Thanh T đi xe ôm của một người không quen biết đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình mục đích mua ma túy về sử dụng. Đến nơi T đi bộ vào trong bệnh viện gặp và mua của 01 người nam giới khoảng 40 tuổi không quen biết 400.000 đồng được 01 gói ma túy bên ngoài được gói bằng giấy trắng mềm (dạng giấy ăn). T nhận ma túy và cầm trong lòng bàn tay phải sau đó đi về. Khi đi đến khu vực cổng Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình thì bị tổ công tác Công an thành phố Thái Bình yêu cầu dừng lại để kiểm tra. Trước sự chứng kiến của hai người làm chứng là anh Bùi Văn Q, sinh năm 1992; Trú tại: thôn Ô, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình và bà Bùi Thị H, sinh năm 1955; Trú tại: Số nhà 85, tổ 3, phường B, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, T tự giác giao nộp từ lòng bàn tay phải 01 gói bên ngoài được gói bằng giấy trắng mềm (dạng giấy ăn), mở kiểm tra bên trong là 01 túi nilon màu trắng trong cùng có chứa chất tinh thể màu trắng. T khai nhận là ma túy đá mua về sử dụng cho bản thân. Tổ công tác gói lại và niêm phong trong phong bì dán kín trên mép có chữ ký của T và mời người làm chứng về trụ ở Công an thành phố để làm việc. Qua kiểm tra người T thu tại túi quần bên phải 01 điện thoại di động Nokia C2 màu đen đã qua sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tộ i quả tang, biên bản niêm phong vậ t chứ ng.

Bản kết luận giám định số 186/KLGĐ-PC54 ngày 01/6/2017 của Phòng kỹ thuậ t hì nh sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận : “Mẫ u gử i giá m đị nh thu củ a Lê Thị Thanh T là ma túy, loại Methamphetamine, có trọng lượng 1,3353 gam (Một phẩy ba nghìn ba trăm năm mươi ba gam)”.

Trong quá trình điều tra , truy tố và tại phiên tòa hôm nay , Lê Thị Thanh T đã khai nhậ n toà n bộ hà nh vi phạ m tộ i củ a mì nh.

Bản cáo trạng số 118/KSĐT ngà y 06 tháng 7 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân thà nh phố Thá i Bì nh truy tố bị cá o Lê Thị Thanh T về tộ i “Tàng trữ trái phép chấ t ma tú y” theo khoả n 1 Điề u 194 Bộ luậ t hì nh sự .

Tại phiên tòa , đạ i diệ n Việ n kiể m sá t nhân dân thà nh phố Thá i Bì nh vẫ n giữ

nguyên quan điể m truy tố Lê Thị Thanh T về tộ i Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Đạ i diệ n Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bìn h đề nghị Hội đồng xét xử áp dụ ng Đi ều 194 khoản 1; Điều 46 khoản 1 điểm p; Điều 33 Bộ luật Hình sự năm 1999; Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; Điều 7 khoản 3; Điều 249 khoản 1, điểm c Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị xử phạt bị cáo mứ c á n từ 15 tháng đến 18 tháng tù, thờ i hạ n tù tí nh từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ 01/6/2017.

- Về vậ t chứ ng củ a vụ á n:

Đề nghị tị ch thu tiêu hủ y số ma tú y cò n lạ i sau giá m đ ịnh; Trả lại bị cáo 01 chiếc điện thoại Nokia C2 màu đen.

Trướ c khi Hộ i đồ ng xé t xử và o phò ng nghị á n , bị cáo trình bày lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬ N ĐỊ NH CỦ A HỘ I ĐỒ NG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nộ i dung vụ á n , căn cứ và o cá c tà i liệ u trong hồ sơ vụ á n đã đượ c thẩ m tra, xét hỏi, tranh luậ n tạ i phiên tò a, Hộ i đồ ng xé t xử nhậ n thấ y như sau:

Về hà nh vi , quyế t đị nh tố tụ ng củ a Cơ quan điề u tra Cô ng an thà nh phố Thá i Bình, Điề u tra viên, Việ n kiể m sá t nhân dân thà nh phố Thá i Bì nh, Kiể m sá t viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thự c hiệ n đú ng về thẩ m quyề n , trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặ c khiế u nạ i về hà nh vi , quyế t đị nh củ a Cơ quan tiế n hà nh tố tụ ng , ngườ i tiế n hà nh tố tụ ng. Do đó , các hành vi, quyế t đị nh tố tụ ng củ a Cơ quan tiế n hà nh tố tụ ng, ngườ i tiế n hà nh tố tụ ng đã thự c hiệ n đề u hợ p phá p.

Lờ i khai củ a bị cá o tạ i phiên tò a hôm nay phù hợ p vớ i lờ i khai củ a bị cá o tạ i

giai đoạ n điề u tra, truy tố , phù hợp với các tài liệu, chứ ng cứ như: Biên bả n bắ t ngườ i phạm tội quả tang lập hồi 21 giờ 30 phút ngày 31/5/2017 (bút lục số 03 - 04); Biên bản niêm phong vật chứng lập hồi 22 giờ 30 phút ngày 31/5/2017 (bút lục số 27); Cùng các tài liệu, chứ ng cứ khá c có trong hồ sơ vụ á n.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội , đã xâm phạ m quy đị nh quản lý chất gây nghiện của Nhà nước. Ma túy là vật cấm lưu hành, không những làm sa sút về sức khỏe trí tuệ con người mà nó còn làm hủy hoại đạo đức nhân cách con người, là tác nhân lan truyền đại dịch HIV/AIDS, là nguồn gốc phát sinh các loại tội phạm khác gây ả nh hưở ng đế n trậ t tự trị an.

Bị cáo là người trên 18 tuổ i, có đầ y đủ năng lự c nhậ n thứ c và điề u khiể n hà nh vi củ a mì nh; bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép ma tú y mụ c đí ch để sử dụ ng cho bản thân . Theo Kế t luậ n giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình thì số ma túy bị cáo tàng trữ là loại Methamphetamine , trọng lượng 1,3353 gam. Vì vậy, hành vi của bị cáo đủ yế u tố cấ u thà nh tộ i “Tàng trữ trái phép chất ma túy ”, tộ i phạ m và hì nh phạ t đượ c quy đị nh tạ i Điề u 194 khoản 1 Bộ luậ t Hì nh sự năm 1999.

Điề u 194 Bộ luậ t hì nh sự năm 1999 quy đị nh:

“1. Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”.

Điề u 249 Bộ luậ t hì nh sự năm 2015 quy đị nh:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: …

c) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;…”

Theo quy đị nh tạ i khoả n 1 Điề u 194 Bộ luậ t Hì nh sự năm 1999 mứ c hì nh phạ t tù từ 02 năm đế n 07 năm là cao hơn so vớ i mứ c hì nh phạ t tù từ 01 năm đế n 05 năm quy đị nh tạ i khoả n 1 Điề u 249 Bộ luậ t Hì nh sự năm 2015. Căn cứ và o nhữ ng quy đị nh có lợi cho bị cáo do thay đổi chính sách pháp luật Hình sự của Nhà nước theo Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội; Điề u 7, khoản 3; Điề u 249, khoản 1, điểm c, Bộ luậ t Hì nh sự năm 2015;

Xét nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ , tăng nặ ng trá ch nhiệ m hì nh sự củ a bị cáo thấy: Bị cáo không có tiề n á n , tiề n sự , tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 khoản 1 điểm p Bộ luật hình sự năm 1999; Ngoài ra bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Căn cứ và o tí nh chấ t, mứ c độ phạ m tộ i, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân củ a bị cá o, Hội đồng xét xử xem xét và ra một mức án tương xứ ng vớ i hà nh vi phạ m tộ i củ a bị cá o.

Bị cáo tàng trữ số lượng ma túy loại Methamphetamine có trọng lượng 1,3353 gam để sử dụng cho bản thân, tại phiên tòa bị cáo khai bị cáo nghiện ma túy từ năm 2015 đến nay. Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mộ t thờ i gian để bị cáo cai nghiện và cải tạo tốt, đồ ng thờ i góp phần đấu tranh phòng ngừ a chung cho toà n xã hộ i về tội phạm ma túy đang gia tăng. Nhưng mặt khác khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Về vật chứng vụ án:

- Về nguồ n gố c số ma tú y , theo bị cáo T khai mua của một người nam giới khoảng 40 tuổ i, không quen biế t tạ i khu vự c Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình nên Cơ quan điề u tra không có căn cứ để điề u tra, xử lý là phù hợp.

- Đối với 01 chiế c điện thoại Nokia C2 màu đen đã qua sử dụng theo bị cáo khai là tài sản hợp pháp của bị cáo , không liên quan đế n hà nh vi phạ m tộ i nên cầ n trả lại bị cáo.

Về á n phí : Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾ T ĐỊ NH

1. Tuyên bố: Bị cáoLê Thị Thanh T phạm tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Hình phạt: Áp dụng Điều 194 khoản 1; Điều 46 khoản 1 điểm p; Điều 33 Bộ luật Hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hộ i và Điề u 7 khoản 3, Điề u 249 khoản 1 điểm c Bộ luậ t Hì nh sự năm 2015.

Xử phạ t bị cá o Lê Thị Thanh T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thờ i hạ n tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ 01/6/2017.

3. Về xƣ̉ lý vậ t chƣ́ ng : Áp dụng Điều 76 Bộ luậ t tố tụ ng hì nh sự ; Điề u 41 Bộ luậ t hì nh sự .

- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy trong vụ án được hoàn lại sau giám định trong phong bì niêm phong số 186/KLGĐ.

- Trả lại bị cáo 01 chiếc điện thoại Nokia C2 màu đen, nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

4. Về á n phí : Áp dụng Điề u 99 Bộ luậ t tố tụ ng hì nh sự ; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộ c bị cá o Lê Thị Thanh T phải nộp 200.000 đồ ng á n phí hì nh sự sơ thẩ m.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 07/8/2017.

Cỡ chữ