vanban.org

Bản án 124/2017/HSST — Hình sự

TAND Q. Thanh Khê, TP Đà Nẵng Tuyên án 28/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trương B phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng: Khoản điểm e khoản 2 Điều 139; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Trương B 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/6/2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương B - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trương B phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 139 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
Q. THANH KHÊ - TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 124/2017/HSST
Ngày: 28/9/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, TP ĐÀ NẴNG

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Bà Lê Bảo Huyền Trân.

- Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Thị Nhớ

Ông Đinh Viết Hồng Lễ

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Anh - Cán bộ Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Bách - Kiểm sát viên.

Trong ngày 28/9/2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 124/2017/TLST - HS ngày 14/9/2017 đối với bị cáo:

TRƯƠNG B - sinh năm 1997 tại Đà Nẵng;

Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Tổ 15E, phường H, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng;

Trình độ học vấn: 11/12;

Nghề nghiệp: Lao động phổ thông.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;

Con ông Trương H (không rõ) và bà Nguyễn Thị T (còn sống);

Tiền án, tiền sự: Chưa.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/6/2017, hiện đang tạm giam, có mặt tại phiên toà.

* Người bị hại:

- Anh Nguyễn Ngọc Q - sinh năm 1995; Hộ khẩu thường trú: xã T, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Chỗ ở hiện nay: Số 32 đường K, phường H, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Anh Phan Vũ Thanh Đ - sinh năm 1980; Trú tại: Số 194 đường V, tổ 18, phường M, quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng (vắng mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Lương Minh T - sinh năm: 1994. Trú tại: K53/01 đường P, quận L, thành phố Đà Nẵng (vắng mặt).

- Anh Thái Thiện T - sinh năm: 1997; Trú tại: K47/06 đường N, phường H, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng (vắng mặt).

- Ông Nguyễn P - sinh năm 1969; Trú tại: Tổ 06 Q, xã H, huyện Hòa Phong, thành phố Đà Nẵng (vắng mặt).

* Người tham gia tố tụng khác: Ông Trần Xuân V - Luật sư Văn phòng Luật sư H thuộc Đoàn Luật sư thành phố Đà Nẵng, địa chỉ: Số 31 đường Lê Vĩnh K, phường H, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng - Là người bào chữa cho bị cáo Trương B (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Bị cáo Trương B bị Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Do muốn có xe mô tô phân khối lớn để sử dụng nên Trương B đã thực hiện 02 vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác, cụ thể như sau:

Vụ 1: Do cần tiền nên anh Nguyễn Ngọc Q có đăng tin rao bán 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Exciter biển kiểm soát 74D1 - 150.17 tại trang mạng “Chợ tốt” với giá bán là 37.000.000đ (ba mươi bảy triệu đồng). Ngày 04/4/2017, Trương B truy cập vào trang mạng và thấy thông tin rao bán xe. B liên lạc qua điện thoại với anh Q và yêu cầu được xem xe để mua. Do đang ở Quảng Trị nên anh Q đã liên lạc với bạn là Lương Minh T đến nhà lấy xe cho B xem. Anh T đến nhà Q thì gặp B. B giả vờ nói với anh T cho mượn chìa khóa để chạy thử xe. Anh T tưởng thật nên đồng ý giao chìa khóa xe, B nổ máy chạy thử xe và trốn thoát. Khi chạy xe ngang qua số nhà K27/01 đường Nguyễn Trường T, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng thì B thấy 01 xe mô tô hiệu Yamaha Surius biển kiểm soát 43K1 - 05649 của ông Nguyễn P không có ai trông coi nên B dừng lại tháo trộm biển số 43K1 - 05649 rồi lắp vào xe mô tô B vừa chiếm đoạt được, còn biển số xe 74D1 - 150.17 thì B vứt bỏ, quá trình điều tra cơ quan điều tra không thu hồi được.

Vụ 2: Khoảng 21 giờ ngày 20/5/2017, Trương B dùng tài khoản Facebook có tên “Huy Le” truy cập vào trang mạng “Hội mua bán xe không giấy tờ Đà Nẵng” với mục đích tìm người đăng bán xe rồi liên hệ với người đó, giả vờ đồng ý mua xe sau đó dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt xe của họ. Tại trang mạng trên, B thấy có thông tin rao bán 01 xe mô tô hiệu Suzuki Stember ST400cc, biển kiểm soát 59A3 - 068.78 của anh Thái Thiện T, giá bán xe là 60.000.000đ (sáu mươi triệu đồng). Qua trao đổi bằng tin nhắn Facebook với anh T, B giả vờ đồng ý mua xe với mức giá nêu trên và hẹn anh T đúng 03 ngày sau gặp nhau để giao dịch việc mua bán xe. Đến khoảng 11 giờ ngày 23/5/2017, B và anh T gặp nhau tại quán cà phê T (địa chỉ: K476/04 đường Đ, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng). Do anh T chỉ là người rao bán hộ xe mô tô nói trên cho anh Phan Vũ Thanh Đ nên anh T gọi điện cho anh Đ mang xe đến quán gặp B và anh T rồi cả ba người cùng xem xe. B giả vờ nói với anh Đ cho B mượn chìa khóa xe để chạy thử. Tưởng thật nên anh Đ đồng ý giao chìa khóa xe cho B. Sau đó, B nổ máy giả vờ chạy thử xe rồi chạy trốn thoát về nhà. Sau đó, B sơn lại màu của chiếc xe đồng thời tìm mua biển số xe 29A1 - 003.57 của một người khác (chưa rõ lai lịch) để gắn vào chiếc xe rồi dùng xe để làm phương tiện đi lại. Biển số xe 59A3 - 068.78 B vứt bỏ vào một thùng rác, quá trình điều tra cơ quan điều tra không thu hồi được. Anh Đ sau khi mất xe đã trình báo sự việc lên cơ quan Công an phường Thanh Khê Đông.

Vật chứng tạm giữ:

- 01 xe mô tô hiệu Suzuki Stember ST400cc, có gắn biển số 29A1 - 003.57.

- 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, có gắn biển số 43K1 - 05649.

Về trách nhiệm dân sự: Cơ quan Cảnh sát điều tra quận Thanh Khê đã trả cho người bị hại là anh Nguyễn Ngọc Q 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter. Anh Q đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu bị can đền bù gì thêm đồng thời có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Trương B.

Về vật chứng của vụ án: Đối với vật chứng là 01 xe mô tô hiệu Suzuki Stember ST400cc, có gắn biển số 29A1 - 003.57 và 01 biển số 43K1 - 05649 đã chuyển chi cục thi hành án quận Thanh Khê chờ xử lý.

Tại bản cáo trạng số 125/QĐ - KSĐT ngày 13 tháng 09 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố Trương B về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo điểm e khoản 2 Điều 139 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố nhà nước giữ nguyên quan điểm đã truy tố, đề nghị HĐXX căn cứ vào tính chất vụ án, nhân thân, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra và đề nghị HĐXX áp dụng: Điểm e, khoản 2 Điều 139, điểm b, p khoản 1, 2 Điều 46 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Trương B mức án từ 36 tháng đến 42 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự và Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự xử lý theo qui định pháp luật.

Luật sư bào chữa cho bị cáo phát biểu và thống nhất về tội danh mà Viện kiểm sát truy tố cũng như các tình tiết giảm nhẹ như lời phát biểu của vị đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét vai trò, động cơ mục đích, hoàn cảnh gia đình các bị cáo để xem xét, tạo điều kiện cho các bị cáo có cơ hội cải tạo với mức hình phạt nhẹ nhất để có điều kiện làm việc trở thành công dân tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Thanh Khê, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra quận Thanh Khê, Điều tra viên, Viện kiểm sát quận Thanh Khê, Kiểm sát viên đều hợp pháp.

Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Trương B đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu mà cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Do muốn có xe phân khối lớn để sử dụng nên Trương B đã thực hiện 02 vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định bị cáo Trương B phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo khoản 2 Điều 139 Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Quá trình điều tra bị cáo B khai nhận: Bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối lừa đảo chiếm đoạt 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter của anh Nguyễn Ngọc Q và 01 xe mô tô hiệu Suzuki Stember ST400cc của anh Phan Vũ Thanh Đ. Theo Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự xác định xe mô tô hiệu Suzuki Stember ST400cc, gắn biển số 29A1 - 003.57 có giá trị 57.000.000đ, xe mô tô hiệu Yamaha Exciter màu trắng đỏ, có gắn biển số 43K1 - 056.49 có giá trị 35.000.000đ, tổng giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt là: 92.000.000đ. Như vậy, bị cáo B phải chịu trách nhiệm hình sự thuộc tình tiết định khung là “chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng” theo quy định tại điểm e khoản 2 điều 139 Bộ luật hình sự là có căn cứ.

Xét tính chất vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Bị cáo có sức khỏe và khả năng lao động bình thường, nhận thức và điều khiển được hành vi của mình nhưng với bản tính ham chơi, lười lao động, thích có xe phân khối lớn để sử dụng không phải do sức lao động của mình làm ra nên bị cáo đã phạm tội. Xét về động cơ mục đích phạm tội của bị cáo, HĐXX thấy bị cáo phạm tội có sự chuẩn bị từ trước, bị cáo đã truy cập vào các trang mạng “Chợ tốt” và “Hội mua bán xe không giấy tờ Đà Nẵng” tìm thông tin người rao bán xe, giả vờ đồng ý mua và hẹn gặp để giao dịch, sau đó dùng thủ đoạn gian dối, mượn chìa khóa xe để chạy thử và trốn thoát. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân luôn được pháp luật bảo vệ, gây mất ổn định tình hình trật tự, trị an xã hội. Vì vậy, đối với bị cáo cần phải được xử lý nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung.

Xét về những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai trái, anh Nguyễn Ngọc Q có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, tài sản đã thu hồi trả cho bị hại. Do đó, HĐXX vận dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo trong khi quyết định hình phạt.

Từ những phân tích trên, xét lời luận tội của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng về tội danh và áp dụng các điều luật cũng như đề nghị mức hình phạt là có căn cứ nên HĐXX chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự:

Anh Nguyễn Ngọc Q đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt là xe mô tô hiệu Yamaha Exciter màu trắng đỏ và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên HĐXX không đề cập.

Trương B có hành vi tháo trộm biển số 43K1 - 056.49 xe Yamaha Surius của ông Nguyễn P, ông P đã trình báo cơ quan công an và được cấp biển số mới nên HĐXX không đề cập.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 xe mô tô hiệu Suzuki Stember ST400cc, anh Phan Vũ Thanh Đ khai mua lại của một người ở Thành phố Hồ Chí Minh, quá trình sử dụng anh Đ bị mất giấy tờ xe. Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng không xác định được người đứng tên đăng ký chủ sở hữu nên HĐXX giao 01 xe mô tô hiệu Suzuki Stember ST400cc, số máy K409 - 100542; số khung: NK43A - 100744 cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tiếp tục làm rõ, xử lý sau.

- Đối với 01 (một) biển số xe 43K1 - 056.49, đây là biển số xe Trương B tháo trộm từ xe Yamaha Surius của ông Nguyễn P, hiện ông P đã được cấp biển số mới, biển số xe này không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 (một) biển số xe 29A1 - 003.57 là biển số xe Trương B mua của một người lạ (không rõ lai lịch) để gắn vào xe mô tô hiệu Suzuki Stember ST400cc, biển số xe này không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

(Các vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng theo biên bản giao nhận ngày 14/9/2017)

Án phí HSST: Bị cáo Trương B phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trương B phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

1. Áp dụng: Khoản điểm e khoản 2 Điều 139; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Trương B 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/6/2017.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự và Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) biển số xe 43K1 - 056.49 và 01 (một) biển số xe 29A1 - 003.57.

Các vật chứng nêu trên hiện nay Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14 tháng 9 năm 2017.

3. Án phí HSST: Bị cáo Trương B phải chịu 200.000đ.

Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được trích sao bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ