vanban.org

Bản án 1231/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N.

Về quan hệ vợ chồng: Bà Nguyễn Thị N được ly hôn với ông Trần Anh K. Giấy chứng nhận kết hôn số 031 quyển số 01/2013 của Ủy ban nhân dân Phường M quận G, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 02/3/2013 cấp cho bà Nguyễn Thị N và ông Trần Anh K không còn hiệu lực). Về con chung: Bà N trực tiếp nuôi dưỡng co… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà N yêu cầu ly hôn với ông K"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1231/2022/HNGĐ - ST.
Ngày:11-8-2022.
V/v: Tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bảo Thu.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Võ Thành Viên.

2. Bà Võ Thị Mai.

Thư ký phiên toà: Bà Võ Thu Hoài - Thư ký Toà án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Oanh, Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 8 năm 2022 tại Tòa án nhân dân Quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 490/2022/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 246/2022/QĐST - HNGĐ ngày 4 tháng 7 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 208/2022/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 7 năm 2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm: 1985; địa chỉ: đường K, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; (Có đơn xin vắng mặt).

Bị đơn: Ông Trần Anh K, sinh năm: 1985 ; địa chỉ : đường Q, Phường M, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

,

NỘI DUNG VỤ ÁN :

Theo đơn khởi kiện ngày 20/3/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị N trình bày: Bà và ông K tự nguyện sống chung với nhau từ năm 2013 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường M, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên bất đồng quan điểm về cách nuôi dạy con cũng như về kinh tế gia đình, không còn tôn trọng nhau. Mặc dù cả hai đã nhiều lần cố gắng nói chuyện giải quyết mâu thuẫn nhưng không có kết quả nên cuộc sống chung rất mệt mỏi và đã ly thân một thời gian dài. Tình cảm vợ chồng không còn nữa nên bà xin được ly hôn để ổn định cuộc sống. Về con chung: Có hai con chung tên Trần Bảo N, sinh ngày 18/4/2013 và Trần Đăng K, sinh ngày 21/02/2017, bà xin được nuôi hai con, tự thỏa thuận việc cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tống đạt theo đúng quy định của pháp luật triệu tập ông K đến Tòa để làm việc, dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông K vẫn vắng mặt nên không ghi được ý kiến của ông.

Tại phiên tòa hôm nay: Bà N xin vắng mặt vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông K và nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con. Ông K được triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 và quy định về phiên tòa sơ thẩm của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70,71 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân dân sự. Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Bà Nguyễn Thị N tự nguyện kết hôn với ông Trần Anh K năm 2013 theo giấy chứng nhận kết hôn số 031 quyển số 01/2013 của Ủy ban nhân dân Phường M quận G, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 02/3/2013. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 điều chỉnh. Nay, bà N yêu cầu ly hôn với ông K, ông K cư ngụ tại quận Gò Vấp nên yêu cầu của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tòa án đã thực hiện việc tống đạt đúng theo qui định của pháp luật, triệu tập các bên đến tham gia phiên tòa nhưng phía bị đơn vẫn vắng mặt và nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng vặt. Do đó, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn, nguyên đơn.

Xét yêu cầu ly hôn của bà N cho thấy trong quá trình sống chung giữa bà và ông K không hòa hợp, không có sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau, cuộc sống chung không có hạnh phúc. Ông K cũng bỏ mặc không đến tòa để hòa giải, hàn gắn, níu kéo hạnh phúc gia đình. Kết quả xác minh tại địa phương cho thấy giữa bà N và ông K có cuộc sống vợ chồng không hòa hợp, mâu thuẫn phát sinh từ năm 2017 và hai người đã ly thân nhau. Bà N đã bỏ về nhà mẹ ruột sống từ tháng 4/2021 cho đến nay. Từ đó, cho thấy cuộc hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà N.

Về con chung: Bà N xin được nuôi dưỡng con chung là Trần Bảo N, sinh ngày 18/4/2013 và Trần Đăng K, sinh ngày 21/02/2017. Ông K không đến Tòa cũng không có ý kiến gì về con chung. Hai con chung đang được bà N chăm sóc, nuôi dưỡng nên Hội đồng xét thấy việc để con chung cho bà N nuôi dưỡng là phù hợp và cũng theo nguyện vọng của trẻ được sống với mẹ. Bà N không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Nguyên đơn, bà N chịu án phí hôn nhân sơ thẩm số tiền là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH :

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84, 85 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Luật thi hành án dân sự năm 2008.

Tuyên xử:

1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N.

Về quan hệ vợ chồng: Bà Nguyễn Thị N được ly hôn với ông Trần Anh K. Giấy chứng nhận kết hôn số 031 quyển số 01/2013 của Ủy ban nhân dân Phường M quận G, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 02/3/2013 cấp cho bà Nguyễn Thị N và ông Trần Anh K không còn hiệu lực).

Về con chung: Bà N trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên là Trần Bảo N, sinh ngày 18/4/2013 và Trần Đăng K, sinh ngày 21/02/2017 cho đến tuổi trưởng thành. Tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con cho ông K do bà N không có yêu cầu. Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ông K có quyền thăm nom con, chăm sóc và giáo dục con chung. Vì lợi ích của con chung theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con; Yêu cầu hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên hoặc hạn chế quyền thăm nom con sau khi ly hôn.

2. Án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà N chịu án phí hôn nhân sơ thẩm số tiền là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng theo biên lai số AA/2021/0048065 ngày 12/4/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014).

Cỡ chữ