vanban.org

Bản án 123

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Nhƣ Thái S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

[2]. Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm r, s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Nhƣ Thái S 18 (Mƣời tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/6/2018. [3]. Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Nguyễn Như Thái Sơn - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
  • Tòa quyết gì? [1]. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Nhƣ Thái S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TßA ¸N NH©N D©N
Thµnh phè ®
tØnh l©m ®ång

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

___________________
B¶n ¸n sè: 123/2018/HSST
Ngµy : 25/9/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

+ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa : Ông HOÀNG TRÌNH

+ Các Hội thẩm nhân dân:

1/. Ông DƢƠNG HẢI LONG;

2/. Bà TRẦN THỊ NGỌC KIM.

- Thư ký phiên tòa: Ông NGUYỄN VĂN ĐỒNG - Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Đ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà HOÀNG THỊ THẮM - Kiểm sát viên

Hôm nay, ngày 25 tháng 9 năm 2018. tại Hội trƣờng Ủy ban nhân dân Phƣờng 11, thành phố Đ, Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 129/2018/HSST ngày 06 tháng 9 năm 2018; Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 122/QĐ-HSST ngày 14 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: NGUYỄN NHƯ THÁI S. Tên gọi khác: L. Sinh ngày 06 tháng 01 năm 1990. Nơi sinh: Lâm Đồng. Nơi ĐKNKTT: 09 - M, Phƣờng 6, thành phố Đ, Lâm Đồng. Chỗ ở: 46/5 - K, Phƣờng 6, thành phố Đ, Lâm Đồng. Nghề nghiệp: Sửa xe. Trình độ học vấn: Lớp 11/12. Con ông: Nguyễn Nhƣ H, sinh năm 1962. Hiện ở tại: 34 - N, Phƣờng 4, thành phố Đ, Lâm Đồng; Con bà: Nguyễn Thị K, sinh năm 1960. Hiện ở tại: 09 - M, Phƣờng 6, thành phố Đ, Lâm Đồng. Vợ thứ nhất: Trần Nhật H, sinh năm 1991 (Đã ly hôn); Vợ thứ hai: Nguyễn Thị Hoàng O, sinh năm 1983, có 04 con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2015. Hiện ở tại: 46/5

- K, Phƣờng 6, thành phố Đ, Lâm Đồng. Tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt ngày 21/6/2018. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ, Lâm Đồng, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Nguyễn Nhƣ Thái S là đối tƣợng nghiện chất ma túy (Methamphetamine) từ năm 2010. Quá trình sử dụng ma túy, S có biết một ngƣời có tên Hùng B (không rõ nhân thân, lai lịch) có bán ma túy. Tối ngày 19/6/2018, S đến khu vực Chùa Kỳ Viên trên đƣờng P, Phƣờng 2, thành phố Đ, Lâm Đồng, gặp và hỏi mua của Hùng B 01 gói ma túy với giá 1.500.000 đồng rồi cất giấu vào trong ngƣời với mục đích để sử dụng dần. Cùng ngày, S có lấy một ít trong số ma túy đã mua ra sử dụng, số còn lại S hàn kín miệng bịch nilon lại và cất vào trong túi áo khoác để sử dụng dần. Đến khoảng 10 giờ 45 ngày 21/6/2018, Công an thành phố Đ, Lâm Đồng đến nhà của Sơn ở tại số 46/5 - K, Phƣờng 6, thành phố Đ, Lâm Đồng gặp S để kiểm tra, nhắc nhở và giáo dục S về hành vi sử dụng ma túy trƣớc đó. Tại đây, S đã tự giác khai nhận vẫn còn sử dụng ma túy và giao nộp gói nilon đựng ma túy mà S đang tàng trữ trong túi áo khoác của mình cho Cơ quan Công an. Công an thành phố Đ, Lâm Đồng đã lập biên bản thu giữ tang vật.

Tại Kết luận giám định số 1083/GĐ-PC54 ngày 22/6/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lâm Đồng kết luận: Mẫu chất ở dạng tinh thể đựng trong 01 gói nilon đƣợc niêm phong gởi giám định có khối lƣợng 01,7486 gam là chất Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy, nằm trong danh mục II, STT 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không thắc mắc, khiếu nại gì đối với Kết luận của Cơ quan giám định nói trên.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Nhƣ Thái S khai nhận vào ngày 19/6/2018 bị cáo đã có hành vi mua chất Methamphetamine của một đối tƣợng tên Hùng B, không rõ lai lịch, tại thành phố Đ, sau đó bị cáo đã tàng trữ với mục đích để sử dụng và khi cơ quan Công an đến nhà để kiểm tra, nhắc nhở và giáo dục về hành vi sử dụng ma túy trƣớc đó, bị cáo đã tự giác đem giao nộp số ma túy đang tàng trữ cho cơ quan Công an thành phố Đ, Lâm Đồng với các hành vi cụ thể nhƣ Cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu là đúng, bị cáo không thắc mắc hay khiếu nại gì về nội dung bản Cáo trạng.

Tại Cáo trạng số 131/CT-VKS ngày 04/9/2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ truy tố Nguyễn Nhƣ Thái S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, Lâm Đồng giữ quyền công tố luận tội và tranh luận nhƣ sau: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Nhƣ Thái S đã khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, Biên bản phạm tội quả tang, không có nội dung gì thay đổi, hành vi của bị cáo tàng trữ 01,7486 gam Methamphetamine, có đủ các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm r, s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Nhƣ Thái S từ 24 đến 30 tháng tù. Về xử lý vật chứng, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo qui định của pháp luật. Bị cáo không có tranh luận gì với Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố và chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, Lâm Đồng và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, Lâm Đồng và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục qui định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại nào về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã đƣợc tiến hành hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Như Thái S: Bị cáo là ngƣời đã trƣởng thành, có đầy đủ nhận thức, bị cáo lại là ngƣời nghiện chất Methamphetamine từ năm 2010 nên biết rất rõ việc mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép các chất ma túy, trong đó có Methamphetamine, một loại ma túy tổng hợp là hành vi trái pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm nhƣng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo mua và tàng trữ 01,7486 gam Methamphetamine với mục đích để sử dụng là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật và gây mất trật tự an toàn xã hội ở địa phƣơng. Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Biên bản phạm tội quả tang, lời khai trong quá trình điều tra và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã đƣợc thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Nhƣ Thái S đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm đối với bị cáo đƣợc qui định tại điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 nhƣ Cáo trạng truy trố và kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của bị cáo tàng trữ ma túy nhƣng chỉ với khối lƣợng 1,7486 gam Methamphetamine, không có tình tiết định khung tăng nặng nào đƣợc qui định tại điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 nên bị cáo chỉ bị xét xử theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và hình phạt nào theo qui định tại điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015.

Bị cáo là ngƣời chƣa có tiền án, tiền sự, việc bị cáo bị phát hiện và bị bắt về hành vi tàng trữ ma túy là do chính bị cáo thừa nhận và tự giác giao nộp vật chứng khi cơ quan Công an kiểm tra, có tính chất tự thú. Sau khi bị bắt, trong quá trình điều tra cũng nhƣ tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ hình phạt theo qui định tại điểm r, s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, cần áp dụng để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

Về áp dụng hình phạt bổ sung: Xét quá trình điều tra cũng nhƣ tại phiên tòa, không xác định đƣợc bị cáo có nguồn thu nhập gì từ việc Tàng trữ trái phép chất ma túy nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Các loại vật chứng đã thu giữ trong quá trình điều tra vụ án gồm có: Hai phong bì đã đƣợc niêm phong, trong đựng vật chứng còn lại sau giám định và bao gói vật chứng trƣớc khi giám định; Một bình có gắn ống thủy tinh dùng để sử dụng ma túy, xét không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủy. Một Chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Nhƣ Thái S, là giấy tờ tùy thân của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.

Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo qui định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Nhƣ Thái S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

[2]. Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm r, s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Nhƣ Thái S 18 (Mƣời tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/6/2018.

[3]. Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

+ Tịch thu để tiêu hủy: 02 phong bì đã niêm phong đựng vật chứng còn lại sau giám định và bao gói vật chứng trƣớc khi giám định và 01 bình có gắn ống thủy tinh dùng để sử dụng ma túy;

+ Trả lại cho bị cáo: 01 Chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Nhƣ Thái S.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố Đà Lạt và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đ ngày 04/9/2018).

[4]. Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[5]. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ