- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tội đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? 1 - Tuyên bố: Các bị cáo Hoàng Văn L, Nguyễn Xuân H, Phạm Văn H , Nguyễ n Văn S và Lê Văn H phạm tội Đánh bạc.
- Căn cứ chính? Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH SƠN LA Bản án số: 123/2017/HSST Ngày 09/8/2017 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Bá Toàn
- Các Hội thẩm nhân dân:
Ông: Vì Văn Đôi
Ông: Đinh Văn Kiên
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Bùi Quang Hùng - Cán bộ Toà án
nhân dân huyện Sông Mã
- Đại diện VKS huyện tham gia phiên toà: Bà Lò Thị Thanh - Kiểm sát viên
Trong ngày 09 tháng 8 năm 2017 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 98/2016/HSST ngày 08 tháng 6 năm 2017 đối với các bị cáo sau:
1- Họ và tên : Hoàng Văn L - Sinh ngày 03/9/1968; Nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: Tổ dân p hố 7 thị trấn S , huyện S1, Sơn La; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Buôn bá n; Trình độ văn hóa: 12/12; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Hoàng Văn T ( đã chế t ), con bà Trầ n Thị C; Bị cáo có vợ là Lê Thị T và 02 con, lớn nhất 10 tuổi, nhỏ nhất 08 tuổi, hiện trú tại Tổ dân phố 7 thị trấn S, huyện S1, Sơn La; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắ t tạm giam tƣ̀ ngà y 15/3/2017 đến ngày 08/6/2017 đƣợ c tại ngoại - Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2- Họ và tên : Phạm Văn H - Sinh ngà y 12/7/1972; Nơi ĐKHKTT Tổ dân phố 7, thị trấn S, huyện S1, Sơn La; Nơi ở hiện nay: bản T, xã N, huyện S, Sơn La; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Buôn bá n; Trình độ văn hóa: 12/12; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Phạm Văn T, con bà Bù i Thị H ( đã chế t ); Bị cáo có vợ là Nguyễ n Thị P và 01 con đã trƣởng thành, hiện trú tại bản T, xã N, huyện S, Sơn La; Tiền án, tiề n sƣ̣ : Không; Bị cáo bị bắ t tạm giam tƣ̀ ngà y 15/3/2017 đến ngày 12/5/2017 đƣợ c tại ngoại - Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
3- Họ và tên: Nguyễ n Văn S - Sinh ngà y 12/10/1981; Nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: bản Q, xã N, huyện S, Sơn La; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Lao độ ng tƣ̣ do; Trình độ văn hóa: 12/12; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Nguyễ n Văn L, con bà: Phạm Thị L ; Bị cáo có vợ là Trầ n Thị Thu H và có 02 con, lớ n nhấ t 04 tuổi, nhỏ nhất 02 tuổ, hiện ở bản Q, xã N, huyện S, Sơn La; Tiền án, tiề n sƣ̣ : Không; Bị cáo bị bắ t tạ m giƣ̃ , tạm giam tƣ̀ ngày 15/3/2017 đến ngày 12/5/2017 đƣợ c tại ngoại - Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
4- Họ và tên: Nguyễ n Xuân H - Sinh ngà y 01/8/1981; Nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: bản C, xã M, huyện S, Sơn La; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Trồ ng trọ t; Trình độ văn hóa: 6/12; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Nguyễ n Đắ c M, con bà Vũ Thị N; Bị cáo có vợ là Nguyễ n Thanh T và có 02 con, lớ n nhấ t 12 tuổi, nhỏ nhất 11 tuổi, hiện ở bản C, xã M, huyện S, Sơn La ; Tiền án , tiề n sƣ̣ : Không; Bị cáo bị bắ t tạm giam tƣ̀ ngà y 15/3/2017 đến ngày 12/5/2017 đƣợc tại ngoại - Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
5- Họ và tên: Lê Văn H - Sinh ngà y 06/5/1978; Nơi ĐKHKTT: bản T, xã C,huyện S, Sơn La; Nơi ở hiện nay: bản H, xã C, huyện S, Sơn La; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Lao độ ng tƣ̣ do ; Trình độ văn hóa: 9/12; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông Lê Quang D, con bà Trần Thị B ( đều đã chế t ); Bị cáo có vợ là Đoà n Thị Ki m O và có 02 con, lớ n nhấ t 12 tuổi, nhỏ nhất 08 tuổi hiện đang ở bản H, xã C, huyện S, Sơn La; Tiền án: Năm 2014 bị Toà án nhân dân huyện Sông Mã xử phạt 7.000.000đ về tộ i đ ánh bạc , tiề n sƣ̣ : Không; Bị cáo bị bắ t tạm giam tƣ̀ ngà y 15/3/2017 đến ngày 12/5/2017 đƣợc tại ngoại - Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NHẬN THẤY:
Các bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã truy tố về hành vi phạm tội nhƣ sau:
Hồi 00h30’ ngày 15/3/2017 Tổ công tác Công an huyệ n Sông Mã phát hiện bắt quả tang tạ i tầ ng hầ m nhà Hoà ng Văn L ở Tổ dân phố 7 thị trấn Sông Mã có 4 đối tƣợng gồ m Phạm Văn H , Nguyễ n Văn S , Nguyễ n Xuân H và Lê Văn H đang đánh bài ăn tiền, còn Hoàng Văn L ( là chủ nhà ) ngồi xem và phục vụ việc chia bài; ngoài ra còn có mặ t củ a Nguyễ n Đì nh C, Vũ Thị N và Hoàng Văn Th. Tổ công tác đã lập biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang , thu giƣ̃ vật chứng gồm : Thu trên chiế u bạ c 01 bộ bà i chắ n gồ m 100 quân bà i, 01 chiế c đĩ a sƣ́ , 01 chiế c thả m nỉ hoa văn mà u tí m ; thu giƣ̃ củ a Phạ m Văn H 01 điệ n thoạ i di độ ng , số tiề n 3.450.000đ; thu giƣ̃ củ a Nguyễ n Văn S 01 điệ n thoạ i di độ ng , số tiề n 5.650.000đ, 01 xe mô tô Biển kiểm soát 26B1- 405.32; thu giƣ̃ củ a Nguyễ n Xuân H 01 điệ n thoạ i di độ ng , số tiề n 11.800.000đ ( trong đó 10.000.000đ để ở trong ví ), 01 xe mô tô Biển kiểm soát 26C1-114.69; thu giƣ̃ củ a Nguyễ n Văn H 01 điệ n thoạ i di độ ng , số tiề n 2.500.000đ, 01 xe mô tô Biển kiểm soát 26C1-025.31; thu giƣ̃ củ a Hoà ng Văn L 01 điệ n thoạ i di độ ng, số tiền 1.620.000đ. Ngoài ra còn tạm giƣ̃ củ a Nguyễ n Đì nh C 01 xe mô tô Biển kiểm soát 26C1-131.77, 01 điệ n thoạ i di động ; tạm giữ của Hoàng Văn T 01 điệ n thoạ i di độ ng, 200.000đ; tạm giữ của Vũ Thị N 01 điệ n thoạ i di độ ng, số tiề n 23.400.000đ.
Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an huyệ n Sông Mã đã tiế n hà nh khá m xé t nhà ở, tài sản của Hoàng Văn L , kế t quả : Thu tạ i nề n nhà tầ ng hầ m nơi cá c đố i tƣợ ng đá nh bạ c 20 bộ bà i chắ n thầ n tà i 100 quân trá ng nhƣ̣ a hai mặ t , 01 đầ u thu Cameza giá m sá t nhã n hiệ u Vantech mà u đen , 01 bộ phá t wifi nhã n hiệ u Alcatel - lucent, 01 màn hình LG dùng để hiển thị các mắt Cameza , thu tạ i hiên nhà phí a trƣớ c 02 mắ t cameza, thu tạ i sau nhà bên phả i 01 mắ t cameza giá m sá t , thu tạ i nề n nhà tầng hầm nơi các đối tƣợng đánh bạc 1200 quân bà i chắ n đã qua sƣ̉ dụ ng , 12 vỏ bộ bài chắn , thu tạ i cƣ̉ a nố i xuố ng tầ ng hầ m 01 quả khoá việt tiệp và 01 chìa khoá dùng để mở , 01 hộ p bá nh bằ ng kim loạ i hì nh trò n không có nắ p , thu tạ i ké t sắ t trong buồ ng ngủ của gia đì nh Hoàng Văn L số tiề n 31.900.000đ.
Tại cơ quan điều tra các bị cáo khai nhận:
Sáng ngày 14/3/2017 Hoàng Văn L gọi điệ n cho Nguyễ n Xuân H ở bản C , xã M bảo H lên nhà để L trả cho H số tiề n 3.000.000đ mà L nợ H tƣ̀ trƣớ c. Khoảng 13h cùng ngày H đi xe môtô BKS 26C1-114.69 lên nhà L , khi đi H mang theo 10.700.000đ ( với mụ c đí ch để mua phân bó n và ngô giố n g ), khi đế n ngã ba bả n L, xã C, H gặ p Nguyễ n Đì nh C trú tại Đội 3, xã C nên H rủ C đi cù ng lên nhà L, C đồ ng ý và điề u khiể n xe môtô B KS 26C1-131.77 của mình đi sau . Do L chƣa có tiề n trả nên bả o H chờ đế n ch iề u, Hô và C vào trong nhà L nằ m ngủ đế n khoả ng 16h cùng ngày L trả cho Hồng 3.000.000đ, sau đó L đã gọi điệ n rủ Lê Văn H, Phạm Văn H , Nguyễ n Văn S đến nhà uống nƣớc. Khoảng 30 phút sau H, H1, S đến nhà, khi uống nƣớc L đã rủ mọi ngƣời cùng đá nh c hắn ăn tiề n mụ c đí ch để L thu tiề n phế . L bảo mọi ngƣời xuống phòng ngủ ở dƣớ i tầ ng hầ m sau đó L khóa cƣ̉ a nhà và đi xu ống sau. Tại tầng hầm, H1, H2, H3, S ngồ i xuố ng tấ m thả m nỉ đã đƣợ c trải sẵn trên nền nhà , L lấ y 01 bộ bà i chắ n và 01 đĩa sƣ́ ra đặ t ở giƣ̃ a để mọ i ngƣờ i chơi, L ngồ i giƣ̃ a S và H chia bà i và quan sá t mà n hì nh hiể n thị cá c mắ t cameza để cả nh giớ i, còn Nguyễn Đình C, Hoàng Văn T ngồ i trên giƣờ ng xem ( C là ngƣời đi cùng H, T là anh họ của L có mặt ở nhà L từ sáng ). Luậ t chơi thố ng nhấ t nhƣ sau : 01 bộ bà i chắ n gồ m 100 quân bà i sẽ chia cho 04 ngƣờ i chơi mỗ i ngƣờ i 19 quân bà i, 24 quân bà i cò n lạ i để và o trong đĩ a để bố c ( gọi là bài lọ c ), mộ t ngƣờ i sẽ bốc một lá bài lọc để xác định ngƣời đánh trƣớc , ngƣờ i kế tiế p theo tay phả i có thể ăn hoặ c bố c bà i lọ c để đá nh , trong quá trì nh đá nh nế u mộ t ngƣờ i báo ù thì hết ván và ngƣời đó thắng ván đó , nế u bố c hế t bà i lọ c mà không ai ù thì hòa và chơi ván mới, ù có bốn loại ù và tuỳ từng loại ù mà ngƣời thua phải trả cho ngƣờ i thắ ng vớ i số tiề n tƣơng ƣ́ ng, cụ thể: ù Suông thì mỗi ngƣờ i thua phả i trả cho ngƣờ i ù 100.000đ, ù Chì là 150.000đ, ù Tôm là 200.000đ, ù Lèo là 250.000đ; trong quá trình chơi nếu có ai ù tôm hoặc ù lèo thì bỏ ra 50.000đ và o vỏ hộ p bá nh quy để bên cạ nh, khi nghỉ thì Lợ i sẽ thu số tiề n nà y gọ i là tiề n phế , khi chơi mọ i ngƣờ i không giớ i hạ n thờ i gian chơi và cũ ng không cho nhau biế t số tiề n cụ thể củ a tƣ̀ ng ngƣờ i mang theo . Trƣớ c khi đá nh Phạm Văn H có 3.500.000đ, Nguyễn Văn S có 1.500.000đ, Nguyễn Xuân H có 13.700.000đ ( trong đó sẽ sƣ̉ dụ ng 3.700.000đ và o việ c đá nh bạ c ), Lê Văn H có 4.700.000đ. Mọi ngƣời đánh đến khoảng 23h cùng ngày thì có Vũ Thị N ở Tổ dân phố 10 thị trấn S cũng đến ngồ i xem. Đến 00h30’ ngày 15/3/2017 thì bị Tổ công tác Công an huyện Sông Mã phát hiện bắt quả tang , thu giƣ̃ toà n bộ vậ
t chƣ́ ng . Quá trình chơi H thua 50.000đ; S thắ ng đƣợ c 4.150.000đ ( trong đó 500.000đ khi tổ công tá c và o bắ t qủ a tang S nhặ t lấ y ở trong vỏ hộp bánh ); H thua 1.900.000đ; H thua 2.200.000đ. Tổ ng số tiề n cá c bị can sƣ̉ dụng đánh bạc là 13.400.000đ. Còn số tiền thu giƣ̃ củ a L 1.620.000đ L khai nhậ n trong đó có 1.000.000đ là tiề n thu phế đá nh bạ c ngà y 11/3/2017.
Ngoài ra các bị can còn khai nhận : Vào đêm ngày 11/3/2017 cũng tại nhà Hoàng Văn L đã cù ng nhau tham gia đá nh bạ c bằ ng hì nh thƣ́ c đá nh chắ n ăn tiề n nhƣng không nhớ số tiề n dù ng để đá nh bạ c là bao nhiêu và cũ ng không biế t là ai thắ ng ai thua , theo L khai số tiề n phế đƣợ c hƣở ng đêm ngà y
11/3/2017 là 1.000.000đ.
Do có hành vi nêu trên, tại bản cáo trạng số 62/KSĐT - KT ngày 08 tháng 6 năm 2017 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đã truy tố ra trƣớc Toà án nhân dân huyện Sông Mã để xét xử các bị cáo Hoà ng Văn L, Phạm Văn H, Nguyễ n Văn S, Nguyễ n Xuân H, Lê Văn H về tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 248 BLHS.
Tại phiên toà kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo phạm tội đánh bạc. Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm h, p khoản 1 Điều 46; Điều 53; Điều 31 BLHS xử phạt Hoàng Văn L từ 12 - 15 tháng cải tạo không giam giữ, khấu trừ thời gian đã bị giữ, giam cho bị cáo, miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo. Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 53; Điều 31 BLHS xử phạt Phạm Văn H từ 06 - 09 tháng cải tạo không giam giữ, khấu trừ thời gian đã bị giữ, giam cho bị cáo; miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo. Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 53; Điều 31 BLHS xử phạt Lê Văn H từ 12 - 15 tháng cải tạo không giam giữ, khấu trừ thời gian đã bị giữ, giam cho bị cáo; miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo. Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm h, p khoản 1 Điều 46; Điều 53; Điều 30 BLHS phạt tiền các bị cáo Nguyễn Xuân H, Nguyễn Văn S từ 5 - 9 triệu đồng. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo. Về vật chứng áp dụng khoản 1 Điều 41 BLHS, khoản 2 Điều 76 BLTTHS tịch thu sung công quỹ nhà nƣớc số tiền 14.400.000đ và 01 điện thoại của Hoàng Văn L. Tịch thu tiêu hủy các bộ bài chắn và các vật chứng liên quan. Trả lại cho bị cáo L số tiền 32.520.000đ và 01 đầ u thu Camera, 01 bộ phá t wifi, 01màn hình LG, 03 mắ t camera, 01 ổ khoá việt tiệ p, 01 chìa khoá. Trả lại cho Phạm Văn H 01điện thoại di động. Trả lại cho Nguyễn Văn S 01 điện thoại di động. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Xuân H 01điện thoại di động, 01 xe máy và số tiền 10.000.000đ. Trả lại cho bị cáo Lê Văn H 01điện thoại và 01 xe máy.
Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã đƣợc thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, các bị cáo.
XÉT THẤY:
Tại phiên toà các bị cáo Hoà ng Văn L
, Phạm V ăn H, Nguyễ n Văn S , Nguyễ n Xuân H và Lê Văn H thừa nhận toàn bộ hành vi. Các bị cáo vẫn giữ nguyên lời khai nhƣ đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án và hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã. Các bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc các bị cáo đã thực hiện - Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với thời gian, địa điểm, diễn biến việc thực hiện tội phạm, phù hợp với biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang và phù hợp với kết luận giám định, các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận: Ngày 14/3/2017 tại nhà của Hoà ng Văn L ở Tổ dân phố 7, thị trấn S, huyện S1, Nguyễn Xuân H, Phạm Văn H , Nguyễ n Văn S, Lê Văn H đã cùng nhau đá nh chắ n, sát phạt nhau bằng tiền mặt; Hoàng Văn L là chủ nhà không trực tiếp chơi nhƣng đã ngồi chia bài và quan sát cảnh giới với mục đích thu tiền phế của những ngƣời chơi. Tổng số tiền các bị cáo đã bỏ ra để đánh bạc là 13.400.000đ. Hành vi của các bị cáo Hoàng Văn L, Nguyễn Xuân H, Phạm Văn H, Nguyễ n Văn S, Lê Văn H đã phạm tội Đánh bạc - Tội phạm và hình phạt đƣợc quy định tại khoản 1 Điều 248 của Bộ luật hình sự.
Hội đồng xét xử thống nhất nhận định, đánh giá nhƣ sau:
Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hƣởng đến trật tự trị an ở địa phƣơng; Các bị cáo nhận thức đƣợc hành vi đánh chắn với mục đích đƣợc thua bằng tiền là vi phạm pháp luật nhƣng các bị cáo vẫn cố tình thực hiện; Trong vụ án này bị cáo Hoàng Văn L là ngƣời đã khởi sƣớng, rủ rê ( mặc dù không trực tiếp chơi nhƣng ngồi chia bài, quan sát, cảnh giới và nhận tiền phế ); các bị cáo Nguyễn Xuân H, Phạm Văn H , Nguyễ n Văn S, Lê Văn H tham gia với vai trò là đồng phạm, áp dụng Điều 53 BLHS cho các bị cáo.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy:
Đối với các bị cáo Hoàng Văn L, Nguyễn Xuân H, Nguyễ n Văn S đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, đều phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, áp dụng điểm h, p khoản 1 Điều 46 BLHS cho các bị cáo.
Đối với bị cáo Phạm Văn H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo phạm tội thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng, nhƣng năm 2009 bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện Sông Mã đƣa ra xét xử về tội đánh bạc mặc dù đã đƣợc xóa án tích nhƣng không thỏa mãn quy định tại điểm h khoản 1 Điều 46 BLHS, tuy nhiên tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên áp dụng điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS cho bị cáo.
Đối với bị cáo Lê Văn H năm 2014 đã bị Toà á n nhân dân huyệ n Sông Mã xƣ̉ phạ t 7.000.000đ về tộ i đá nh bạ c bị cáo đã thi hà nh xong nhƣng chƣa đƣợc xóa án, lần phạm tội này thuộc trƣờng hợp tái phạm; tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải - áp dụng điểm g khoản 1 Điều 48 và điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS là các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Các bị cáo Hoàng Văn L, Phạm Văn H, Lê Văn H phạm tội phạm tội ít nghiêm trọng, số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc ít, có nơi thƣờng trú cụ thể, rõ ràng, nên chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với các bị cáo cũng đảm bảo đƣợc mục đích giáo dục, răn đe và phòng ngừa, không gây ảnh hƣởng đến việc đấu tranh phòng chống tội phạm, phù hợp với quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân, cần khấu trừ thời gian các bị cáo bị tạm giữ, giam vào thời gian chấp hành hình phạt theo quy định tại Điều 31 BLHS, cụ thể: Hoàng Văn L là 02 tháng 26 ngày ( tƣơng đƣơng 8 tháng 18 ngày ), các bị cáo , Phạm Văn H và Lê Văn H mỗi bị cáo bị tạm giữ, giam là 01 tháng 29 ngày ( tƣơng đƣơng 5 tháng 27 ngày ). Về việc khấu trừ thu nhập xét thấy các bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định, nên xem xét miễn cho các bị cáo. Cần căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò của các bị cáo để có mức hình phạt tƣơng xứng với từng bị cáo nhằm giáo dục các bị cáo có ý thức tuân theo pháp luật, răn đe, phòng ngừa chung.
Các bị cáo Nguyễn Xuân H, Nguyễn Văn S không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, ngoài lần vi phạm này đều chấp hành nghiêm chủ trƣơng, đƣờng lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nƣớc, chấp hành tốt các quy định của địa phƣơng, số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc ít. Hội đồng xét xử thấy chỉ cần áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo cũng đảm bảo đƣợc mục đích giáo dục, răn đe và phòng ngừa, không gây ảnh hƣởng đến việc đấu tranh phòng chống tội phạm, phù hợp với quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân.
Về hình phạt bổ sung - Phạt tiền: Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Đối với số vật chứng gồm: 01 bộ bài chắn gồm 100 quân bà i, 01 chiế c điã sƣ́ , 01 chiế c thả m nỉ văn hoa mà u tí m ,1200 quân bà i chắ n , 12 vỏ hộp bài chắn , 20 bộ bà i chắ n , 01 hộ p bá nh quy bằ ng kim loạ i hì nh trò n không có nắ p cần tịch thu tiêu hủy . Đối với 01 điệ n thoạ i di độ ng nhã n hiệ u Samsung Galaxy S6 màu vàng của Phạm Văn H , 01 điệ n thoạ i di độ ng nhã n hiệ u Iphone 6s màu vàng của Nguyễn Văn S , 01 điệ n thoạ i di độ ng nhã n hiệ u Nokia 105 của Lê Văn H, 01 điện thoại nhãn hiệu Philips E 101 của Nguyễn Xuân H là tài sản thuộc sở hữu của các bị cáo không liên quan đến việc phạm tội của bị cáo, cần trả lại cho các bị cáo; Đối với 01 điệ n thoạ i di động Nokia 230 của Hoàng Văn L là chiếc điện thoại bị cáo dùng vào việc gọi các bị cáo ( mặc dù khi gọi với lý do đến nhà uống nƣớc nhƣng ý thức chủ quan của bị cáo là gọi các bị cáo khác đến đánh bài ) nên cần sung công quỹ Nhà nƣớc; Đối với 01 đầ u thu Camera giá m sá t nhãn hiệu Vantech màu đen, 01 bộ phá t wifi nhã n hiệ u Alcatel-lucent, 01 màn hình LG, 03 mắ t camera nhã n hiệ u SPYEYE0 là tài sản mà bị cáo Hoàng Văn L dùng để quan sát khi các bị cáo đánh bạc tuy nhiên đều là tài sản chung của gia đình bị cáo ( đã đƣợc lắp đặt từ trƣớc với mục đích chống trộm ) và 01 ổ khoá việt tiệp, 01 chìa khoá cần trả lại cho bị cáo. Đối với 01 xe môtô nhã n hiệ u Honda Wave RSX màu đỏ đen BKS 26C1- 025.31 là tài sản chung của gia đình bị cáo Lê Văn H cần trả lại cho bị cáo. Đối với 01 xe môtô nhã n hiệ u Honda Wave α màu trắ ng - bạc - đen BKS 26C1-114.69 là tài sản chung của gia đình bị cáo Nguyễn Xuân H cần trả lại cho bị cáo. Đối với số tiền 56.920.000đ, trong đó số tiền 31.900.000đ là tiền của gia đình bị cáo Hoàng Văn L và số tiền 620.000đ là tiền của bị cáo L không liên quan đến việc phạm tội của bị cáo cần trả lại cho bị cáo; số tiền 10.000.000đ là của bị cáo Nguyễn Xuân H không liên quan đến việc phạm tội của bị cáo cần trả lại cho bị cáo; số tiền 14.400.000đ là số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc cần tịch thu sung công quỹ Nhà nƣớc.
Về vấn đề khác liên quan đến vụ án : Đối với việc các bị cáo khai nhận ngày 11/3/2017 đã cù ng nhau tham gia đá nh bạ c tạ i nhà L, song không nhớ số tiề n dù ng vào việc đánh bạc là bao nhiêu nên cơ quan điều tra không đủ căn cứ xác định trách nhiệm hình sự là đảm bảo theo quy định.
Đối với Nguyễn Đì nh C, Hoàng Văn T và Vũ Thị N là những ngƣời có mặt tại nhà L khi các bị cáo đang đánh bạc, quá trình điều tra đã xác định đƣợc C, T và N không tham gia đánh bạc nên cơ quan điều tra không đặt vấn đề xử lý và đã trả lại toàn bộ tài sản đã tạm giữ là đảm bảo theo quy định.
Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1 - Tuyên bố: Các bị cáo Hoàng Văn L, Nguyễn Xuân H, Phạm Văn H , Nguyễ n Văn S và Lê Văn H phạm tội Đánh bạc.
* Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm h, p khoản 1 Điều 46; Điều 53; Điều 31 Bộ luật hình sự:
Xử phạt Hoàng Văn L 12 ( mƣời hai ) tháng cải tạo không giam giữ, đƣợc khấu trừ 08 tháng 18 ngày ( tám tháng mƣời tám ngày) - Thời gian chấp hành hình phạt còn lại là 03 tháng 12 ngày ( ba tháng mƣời hai ngày ) - Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân thị trấn Sông Mã, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La nhận đƣợc Quyết định thi hành án và bản sao Bản án.
Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo
Giao bị cáo Hoàng Văn L cho Uỷ ban nhân dân thị trấn Sông Mã, huyện Sông Mã, Sơn La giám sát và giáo dục.
* Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 53; Điều 31 Bộ luật hình sự:
Xử phạt Phạ m Văn H 09 ( chín ) tháng cải tạo không giam giữ, đƣợc khấu trừ 05 tháng 27 ngày ( năm tháng hai mƣơi bảy ngày) - Thời gian chấp hành hình phạt còn lại là 03 tháng 03 ngày ( ba tháng ba ngày ) - Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã Nà Nghịu, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La nhận đƣợc Quyết định thi hành án và bản sao Bản án.
Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo
Giao bị cáo Phạm Văn H cho Uỷ ban nhân dân xã Nà Nghịu, huyện Sông Mã, Sơn La giám sát và giáo dục.
* Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 53; Điều 31 Bộ luật hình sự:
Xử phạt Lê Văn H 12 ( mƣời hai ) tháng cải tạo không giam giữ, đƣợc khấu trừ 05 tháng 27 ngày ( năm tháng hai mƣơi bảy ngày) - Thời gian chấp hành hình phạt còn lại là 06 tháng 03 ngày ( sáu tháng ba ngày ) - Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã Chiềng Cang, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La nhận đƣợc Quyết định thi hành án và bản sao Bản án.
Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo
Giao bị cáo Lê Văn H cho Uỷ ban nhân dân xã Chiềng Cang, huyện Sông Mã, Sơn La giám sát và giáo dục.
* Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm h, p khoản 1 Điều 46; Điều 53; Điều 30 Bộ luật hình sự:
- Phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Xuân H số tiền 6.000.000đ ( sáu triệu đồng chẵn ).
- Phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Văn S số tiền 6.000.000đ ( sáu triệu đồng chẵn ).
2- Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 41 BLHS, điểm a, c khoản 2 Điều 76 BLTTHS:
- Tịch thu tiêu huỷ:
+ 01 ( một ) bộ bài chắn gồm 100 quân.
+ 01 ( một ) chiếc đĩa sứ
+ 01 ( một ) thảm nỉ có hoa văn màu tím
+ 20 ( hai mƣơi ) bộ bài chắn chƣa qua sử dụng.
+ 1.200 ( một nghìn hai trăm ) quân bài chắn đã qua sử dụng.
+ 12 ( mƣời hai ) vỏ hộp bài chắn đã bóc rách.
+ 01 ( một ) hộp bánh quy bằng kim loại
- Tịch thu sung công quỹ Nhà nƣớc:
+ Số tiền 14.400.000đ ( mƣời bốn triệu bốn trăm ngàn đồng ) trong đó của Hoàng Văn Lợi là 1.000.000đ, Phạm Văn H là 3.450.000đ, Nguyễn Văn S là 5.650.000đ, Nguyễn Xuân H là 1.800.000đ, Lê Văn H là 2.500.000đ.
+ 01 ( một ) điện thoại di động NOKIA 230, số IMEL 354882083050727 của Hoàng Văn L.
- Trả lại cho bị cáo Hoàng Văn L: Số tiền 32.520.000đ ( ba mƣơi hai triệu năm trăm hai mƣơi ngàn đồng ), 01 ( một ) đầ u thu Camera nhã n hiệ u Vantech màu đen, 01 ( một ) bộ phá t wifi hiệ u Alcatel-lucent, 01( một ) màn hình LG, 03 ( ba ) mắ t camera nhã n hiệ u SPYEYE , 01 ( một ) ổ khoá việt tiệp , 01 ( một ) chìa khoá.
- Trả lại cho bị cáo Phạm Văn H 01 ( một ) điện thoại di động Sam Sung Galaxy S6, số IMEL 353621074317815102.
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn S 01 ( một ) điện thoại di động Iphone 6s plus, số IMEL 353290073340697.
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Xuân H 01 ( một ) điện thoại di động hiệu PHILIPS E101, số IMEL 865656027241119; 01 ( một ) xe máy nhãn hiệu Honda Wave α, biển kiểm soát 26C1 - 11469 và số tiền 10.000.000đ ( mƣời triệu đồng ).
- Trả lại cho bị cáo Lê Văn H 01 ( một ) điện thoại NOKIA 105, số IMEL 353051069329692 và 01 ( một ) xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển kiểm soát 26C1 - 025.31.
( Theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 14/6/2017 giữa cơ quan Công an và Chi cục Thi hành án dân sự ).
3 - Về án phí: Áp dụng Điều 99 BLTTHS; Các Điều 21, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:
Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ ( Hai trăm ngàn đồng ) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 09/8/2017./.
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh; - VKSND Tỉnh; - VKSND huyện - Công an huyện; - THA hình sự ; - CCTHA Dân sự; - Sở TP; - Bị cáo ; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Phạm Bá Toàn |