vanban.org

Bản án 123/2026/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở Cai nghiện bắt buộc đối với Lê Minh T1.

Thời gian chấp hành tại Cơ sở Cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày bị tạm giữ để đưa đi Cơ sở cai nghiện bắt buộc. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định này được thực hiện theo quy định tại các Điều 30, 31 và 32 của Pháp lệnh Trình tự, thủ tục xem xét, quyết địn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Lê Minh Thuận"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở Cai nghiện bắt buộc đối với Lê Minh T1.
  • Căn cứ chính? Điều 18 Pháp lệnh Trình tự, thủ tục xem xét; Điều 19 Pháp lệnh Trình tự, thủ tục xem xét; Điều 2 Pháp lệnh Trình tự, thủ tục xem xét
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 13
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 123/2026/QĐ-TALong Điền, ngày 22 tháng 4 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Đỗ Hữu T.

2. Thư ký phiên họp: Ông Lê Văn Duẩn.

Ngày 22 tháng 4 năm 2026, tại điểm cầu Trung tâm Tòa án nhân dân khu vực 13, Thành phố Hồ Chí Minh và điểm cầu thành phần Cơ sở cai nghiện ma túy số 06, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành phiên họp trực tuyến xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 70/QĐ-TA ngày 14 tháng 4 năm 2026 đối với:

Họ và tên: Lê Minh T1, sinh ngày 04/10/1997; giới tính: nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; trình độ văn hóa: lớp 7/12; căn cước công dân số 077097001094, cấp ngày 10/8/2021; hộ khẩu thường trú: Ấp A, xã L, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi sinh sống: không ổn định; con ông Lê Văn M và bà Huỳnh Thị Mỹ T2.

Tiền án, tiền sự: không.

Lê Minh T1 đang bị quản lý tại Cơ sở cai nghiện ma tuý số 6, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Hồ T3 - Cán bộ Công an xã L, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13, Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Nguyễn Minh Khuê - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Trưởng Công an xã L, Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Minh T1 về hành vi vi phạm như sau: Ngày 20/02/2026, Lê Minh T1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 25/02/2026, Lê Minh T1 bị Công an xã L tiến hành kiểm tra, cho xét nghiệm, đã xác định được Lê Minh T1 là người nghiện ma túy và lập hồ sơ đề nghị đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Tại phiên họp, đại diện Công an xã L trình bày: Lê Minh T1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy loại đá. Ngày 25/02/2026, Công an xã L kiểm tra, cho xét nghiệm và kết quả xét nghiệm phát hiện Lê Minh T1 dương tính với ma túy đá. Ngày 27/02/2026, Trạm y tế xã L có Văn bản xác định Lê Minh T1 có nghiện ma túy đá (Methamphetamine) và ngày 05/3/2026, Lê Minh T1 từ chối cai nghiện tự nguyện. Trên cơ sở đó, Trưởng Công an xã L đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 13, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Lê Minh T1 vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc (thời gian đề nghị: từ 18 tháng đến 20 tháng) để cai nghiện ma túy, giúp cho Lê Minh T1 trở thành người công dân có ích cho xã hội.

Ý kiến của Lê Minh T1: Ngày 20/02/2026, Lê Minh T1 có sử dụng ma túy đá. Lê Minh T1 thừa nhận đã sử dụng ma túy nhiều lần và không có ý kiến gì về việc bị đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Ý kiến của Kiểm sát viên: Trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp xử lý đối với Lê Minh T1 là đầy đủ và đúng quy định. Việc áp dụng biện pháp đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị nghiện là cần thiết, đề nghị Tòa án xem xét Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Lê Minh T1 vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định.

XÉT THẤY:

Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị:

Ngày 25/02/2026, Lê Minh T1 bị Công an xã L kiểm tra, cho xét nghiệm, phát hiện Lê Minh T1 có sử dụng trái phép chất ma túy và Lê Minh T1 “không có nơi cư trú ổn định” nên Lê Minh T1 thuộc trường hợp xác định tình trạng nghiện ma túy theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 27 Luật Phòng, chống ma túy (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Ngày 27/02/2026, Trạm y tế xã L có Văn bản xác định Lê Minh T1 có nghiện ma túy đá (Methamphetamine) và ngày 05/3/2026, Lê Minh T1 từ chối cai nghiện tự nguyện, nên Trưởng Công an xã L đề nghị đưa Lê Minh T1 vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc là đúng quy định tại Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2025) và Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Do đó, việc lập hồ sơ đề nghị đối với Lê Minh T1 là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân, mức độ nhận thức của người bị đề nghị áp dụng:

Lê Minh T1 thừa nhận toàn bộ hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đá của mình. Lời khai của Lê Minh T1 phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời trình bày của những người tham gia phiên họp khác. Nên có căn cứ xác định: Ngày 20/02/2026, Lê Minh T1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đá. Căn cứ Phiếu Kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 27/02/2026 của Trạm Y tế xã L kết luận Lê Minh T1 là người nghiện ma túy loại Methamphetamine và ngày 05/3/2026 Lê Minh T1 từ chối cai nghiện tự nguyện.

Xét thấy, việc nghiện ma túy làm giảm sức khỏe của bản thân người sử dụng, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là nguyên nhân dẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật khác. Do đó cần phải áp dụng biện pháp đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Minh T1 một thời gian để cho đối tượng được cai nghiện, đồng thời có tác dụng phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, Lê Minh T1 tự nguyện khai báo là tình tiết giảm nhẹ để xem xét khi áp dụng thời gian cai nghiện bắt buộc.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ vào các Điều 2, 3, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 30, 31 và 32 Pháp lệnh Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân (sửa đổi, bổ sung năm 2025); các Điều 3, 6, 9 (khoản 2), 95, 96, 104, 105 (khoản 2) và 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2025); Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở Cai nghiện bắt buộc đối với Lê Minh T1.

2. Thời gian chấp hành tại Cơ sở Cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày bị tạm giữ để đưa đi Cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định này được thực hiện theo quy định tại các Điều 30, 31 và 32 của Pháp lệnh Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Lê Minh T1 có quyền khiếu nại Quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định (ngày 22/4/2026);

Trưởng Công an xã L, Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kiến nghị Quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định (ngày 22/4/2026);

Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13, Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định (ngày 22/4/2026).

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an xã L, Thành phố Hồ Chí Minh và Cơ sở cai nghiện ma tuý số 6, Thành phố Hồ Chí Minh.

Cỡ chữ