vanban.org

Bản án 123/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 3 - Sơn La, tỉnh Sơn La Tuyên án 14/05/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Quàng Văn Q phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Quàng Văn Q 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/12/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Quàng Văn Q - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 123/2026/HS-ST
Ngày 14 - 5 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lô Văn Long

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Ngọc Tam; bà Lò Thị Thành

- Thư ký phiên toà: Bà Lý Thị Thuỳ Linh - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3 - Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Sơn La tham gia phiên toà: Ông Sộng Nỏ Ly - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 5 năm 2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 132/2026/TLST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 142/2026/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2026 đối với bị cáo:

Họ và tên: Quàng Văn Q, sinh năm 1994, tại xã Mường H, tỉnh Sơn La;

Nơi cư trú: Bản Bua H, xã Mường H, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Khơ Mú; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt nam; con ông Quàng Văn P và bà Cút Thị S; bị cáo có vợ là Mòng Thị L và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/12/2025 cho đến nay; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 00 phút ngày 20/12/2025 tổ công tác Công an xã Mường H, tỉnh Sơn La làm nhiệm vụ phòng chống ma túy và test thử ma túy tại bản Bua H, xã Mường H phát hiện Quàng Văn Q, sinh năm 1994 trú tại bản Bua H, xã Mường H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ, 01 lọ nhựa màu vàng, nắp bằng nilon màu trắng bên trong chứa 64 viên nén màu hồng (Q khai nhận là Hồng phiến). Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Quàng Văn Q, thu giữ và niêm phong vật chứng nghi là ma túy.

Cùng ngày Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Q, kết quả: Không thu giữ gì thêm.

Ngày 20/12/2025 tại tổ địa bàn Sông Mã - Công an tỉnh Sơn La, Hội đồng bóc mở niêm phong đã tiến hành cân tịnh, xác định khối lượng và trích mẫu giám định, kết quả: 64 viên nén màu hồng có khối lượng là 6,40 gam đã sử dụng toàn bộ để làm mẫu gửi giám định ký hiệu Q.

Tại bản kết luận giám định số 85/KL ngày 24/12/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận:

- Mẫu ký hiệu Q gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 6,40 gam.

- Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 6,40 gam; Loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo Quàng Văn Q khai nhận hành vi phạm tội như sau: Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 17/12/2025 Q đem theo số tiền 800.000 đồng (là tiền do Q lao động tiết kiệm mà có) đi bộ từ nhà lên khu vực nương lúa của bản Bua H, xã Mường H để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi lên đến khu vực nương lúa, Q gặp một người phụ nữ không rõ danh tính nên dừng lại nói chuyện và hỏi mua được 70 viên Hồng phiến được gói bằng một túi nilon màu trắng với số tiền 800.000 đồng từ người phụ nữ này. Mua được ma túy, Q đem về nhà và cho toàn bộ số Hồng phiến vào một lọ nhựa màu vàng, nắp bằng nilon màu trắng cất giấu để sử dụng dần. Từ ngày 17/12 đến ngày 20/12/2025 Q đã sử dụng hết 06 viên, số còn lại Q tiếp tục cất giấu để sử dụng. Đến 11 giờ ngày 20/12/2025 khi Q đang ở nhà thì thấy tổ công tác đến kiểm tra, test thử ma túy do đó Q đã lấy lọ nhựa chứa số ma túy ra để giao nộp. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng.

Cáo trạng số 81/CT-VKSSL-KV ngày 06 tháng 4 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Sơn La đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân khu vực 3 - Sơn La để xét xử bị cáo Quàng Văn Q về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và 2025).

Tại phiên tòa, bị cáo Quàng Văn Q đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Sơn La vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật viện dẫn áp dụng như nội dung bản Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Quàng Văn Q phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và 2025).

Xử phạt bị cáo Quàng Văn Q từ 06 năm đến 06 năm 04 (bốn) tháng tù;

Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoảng 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu để tiêu huỷ 4,46 gam ma tuý, loại Methamphetamine; 01 lọ nhựa màu vàng nút bằng mảnh nilon màu trắng cuộn lại.

Về án phí: Bị cáo Quàng Văn Q là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nên đề nghị xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Quàng Văn Q không có ý kiến gì đối đáp với lời luận tội của Kiểm sát viên, khi được nói lời sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ trong vụ án; Kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Ngày 20/12/2025 bị cáo Quàng Văn Q đã có hành vi tàng trữ 6,40 gam ma túy, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ.

Tại phiên toà bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi, vẫn giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án và hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Sơn La. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Sơn La truy tố bị cáo về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và 2025); phát biểu luận tội của của Kiểm sát viên tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị mức xử phạt tù giam đối với bị cáo về tội danh nêu trên là phù hợp, có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.

Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi mà bị cáo Quàng Văn Q thực hiện đã phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và 2025), có kH hình phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.

Về tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo nhận thức được hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy của mình là vi phạm điều cấm của pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện, thể hiện sự coi thường pháp luật, vi phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy và gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương nên cần xử lý nghiêm.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt chính: Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ nhằm mục đích sử dụng; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhân thân của bị cáo, xét thấy cần áp dụng hình phạt tù giam đối với bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội cũng như công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm.

Về hình phạt bổ sung là phạt tiền: Hội đồng xét xử thấy bị cáo không có tài sản, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về các vấn đề có liên quan: Đối với người phụ nữ không rõ tên tuổi và địa chỉ là người đã bán ma tuý cho bị cáo tại khu vực nương lúa thuộc bản Bua H, xã Mường H, tỉnh Sơn La vào ngày 17/12/2025. Do không xác định được họ tên đầy đủ và địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án này.

Đối với Quàng Văn Q dương tính với kết quả test thử ma túy, thừa nhận sau khi mua được ma túy đã trích ra sử dụng. Tuy nhiên, bị cáokhông thuộc chủ thể quy định tại khoản 1 Điều 256a BLHS nên không xem xét và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Quàng Văn Q về tội Sử dụng trái phép chất ma túy. Mặt khác, số ma túy bị cáo đã sử dụng là cùng một nguồn với số đã bị thu giữ và khởi tố, do đó không xem xét và xử phạt vi phạm hành chính đối với bị cáo Quàng Văn Q về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là có căn cứ, cần chấp nhận.

Vật chứng của vụ án: Đối với 4,46 gam ma tuý, loại Methamphetamine; 01 lọ nhựa màu vàng nút bằng mảnh nilon màu trắng cuộn lại là vật cấm lưu hành và vật không có giá trị sử dụng, nên cần tịch thu để tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo Quàng Văn Q là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nên được xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Tuyên bố bị cáo Quàng Văn Q phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Quàng Văn Q 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/12/2025.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoảng 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 4,46 gam ma tuý, loại Methamphetamine; 01 lọ nhựa màu vàng nút bằng mảnh nilon màu trắng cuộn lại.

Theo Quyết định chuyển vật chứng số: 65/QĐ-VKS ngày 02/4/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Sơn La và Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản lập hồi 16 giờ 00 phút ngày 03 tháng 4 năm 2026 giữa Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Sơn La và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 - Sơn La.

3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ Ban Thường Vụ Quốc hội. Bị cáo Quàng Văn Q được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 14/5/2026).

Cỡ chữ