- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Văn Thị H được ly hôn với anh Hồ Trung Đ.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 123/2026/HNGĐ - ST Ngày: 07-9-2026 “V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Diên.
Các Hội thẩm nhân dân :
1. Bà Phan Thị Hương Thanh.
2. Ông Nguyễn Sỹ Nghị.
- Thư ký phiên toà: Bà Hồ Thị Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 - Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Hồ Diên Khoa - Kiểm sát viên.
Trong ngày 07 tháng 9 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 - Nghệ An mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 145/2026/TLST-HNGĐ, ngày 21 tháng 4 năm 2026 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 121/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 8 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 96/2026/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 8 năm 2026, giữa các đương sự
1. Nguyên đơn: Chị Văn Thị H, sinh năm 1986.
Số CCCD: 040186011319.
Nơi cư trú: Khối Q, phường T, tỉnh Nghệ An (có đơn xin xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Anh Hồ Trung Đ, sinh năm 1987.
Số CCCD: 040087008585.
Nơi cư trú: Khối Đ, phường T, tỉnh Nghệ An (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 27/02/2026 cũng như trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Văn Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Văn Thị H và anh Hồ Trung Đ có đăng ký kết hôn vào ngày 27 tháng 3 năm 2014 tại UBND phường H, thị xã T, (nay là phường T), tỉnh Nghệ An. Hôn nhân được xác lập trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính cách của hai vợ chồng không thể hòa hợp, không có tiếng nói chung về cách nuôi dạy con cái, mặc dù đã nhiều lần hàn gắn nhưng không thành. Do đó chị và anh Đ đã sống ly thân từ cuối năm 2014 cho đến nay. Từ khi sống ly thân đến nay vợ chồng không còn ai quan tâm chăm sóc nhau nữa. Hiện nay chị không còn tình cảm với anh Đ nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đ.
Về con chung: Chị H và anh Đ có 01 con chung là Hồ A, sinh ngày 18 tháng 10 năm 2014. Hiện nay con chung đang ở với chị nên chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Chị H không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung.
Về chia tài sản chung: Vợ chồng chị không có tài sản chung, không có tài sản cho ai vay, không vay của ai tài sản gì nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Đối với bị đơn anh Hồ Trung Đ: Quá trình giải quyết vụ án, anh Đ thường xuyên vắng mặt tại địa phương, thỉnh thoảng anh Đ có về. Do đó Tòa án đã niêm yết các văn văn tố tụng cho anh Đ theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Nghệ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký: Từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, Thư ký đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Việc thu thập chứng cứ, tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Đúng thành phần, đúng quy định từ khi mở phiên toà cho đến khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án.
Về việc tuân theo pháp luật của đương sự: Nguyên đơn chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật; bị đơn không chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật, không có mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Văn Thị H được ly hôn với anh Hồ Trung Đ.
Về nuôi con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao cho chị Văn Thị H được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung của chị H, anh Đ cho đến khi con chung đủ 18 tuổi trưởng thành.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Văn Thị H không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
Về chia tài sản chung: Chị Văn Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn xét.
Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc chị Văn Thị H phải chịu toàn bộ án phí LHST.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về thẩm quyền: Chị Văn Thị H yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 8 - Nghệ An giải quyết ly hôn với anh Hồ Trung Đ có hộ khẩu thường trú tại khối Đ, phường T, tỉnh Nghệ An. Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Nghệ An.
Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Văn Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Hồ Trung Đ đã được Toà án triệu phiên toà hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó căn cứ khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
Về nội dung:
2.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Văn Thị H và anh Hồ Trung Đ có đăng ký kết hôn vào ngày 27 tháng 3 năm 2014 tại UBND phường H, thị xã T, (nay là phường T), tỉnh Nghệ An. Hôn nhân được xác lập trên cơ sở tự nguyện, đảm bảo các điều kiện kết hôn. Do đó hôn nhân giữa chị H và anh Đ là hợp pháp.
Về nguyên nhân mâu thuẫn: Theo chị H, nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính cách của hai vợ chồng không thể hòa hợp, không có tiếng nói chung về cách nuôi dạy con cái, mặc dù đã nhiều lần hàn gắn nhưng không thành. Do đó vợ chồng đã sống ly thân từ cuối năm 2014 cho đến nay. Từ khi sống ly thân đến nay vợ chồng không còn ai quan tâm chăm sóc nhau nữa. Sau khi thụ lý vụ án Toà án đã thông báo, triệu tập, niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ cho anh Đ nhưng anh Đ đều vắng mặt không có lý do. Điều đó chứng tỏ anh Đ không mong muốn tìm giải pháp để hàn gắn tình trạng mâu thuẫn của vợ chồng. Mặt khác qua xác minh tại địa phương xác định trong quá trình chung sống thì anh Đ, chị H có xảy ra mâu thuẫn. Tuy nhiên nguyên nhân mâu thuẫn thế nào thì Ban cán sự không nắm được và hiện tại anh Đ không có mặt tại địa phương nhưng thi thoảng anh Đ có về thăm gia đình.
Xét mâu thuẫn giữa chị H, anh Đ đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cho chị H được ly hôn với anh Đ như lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Nghệ An là có căn cứ.
2.2. Về nuôi con chung: Chị H và anh Đ có 01 con chung là Hồ A, sinh ngày 18 tháng 10 năm 2014, không ai có con riêng, vợ chồng không nhận nuôi con nuôi.
Qúa trình giải quyết vụ án, chị Văn Thị H có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung cho đến khi con chung trưởng thành và không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Chị Văn Thị H làm công nhân, đảm bảo thu nhập, điều kiện ăn ở sinh hoạt để trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung. Hơn nữa con chung có nguyện vọng được ở chung với chị H. Qua xác minh tại địa phương xác định trong quá trình chung sống, không ai có hành vi đánh đập, ngược đãi con chung. Hiện tại con chung đang được chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, anh Đ đều vắng mặt không có lý do và không rõ địa chỉ của anh Đ ở đâu. Do đó để tạo mọi điều kiện tốt nhất cho các con chung của chị H, anh Đ được phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần, đảm bảo quyền và lợi ích mọi mặt của con chưa thành niên khi chị H và anh Đ ly hôn, cần giao con chung Hồ A, sinh ngày 18 tháng 10 năm 2014, cho chị H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng theo quy định tại các Điều 58, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Nghệ An là phù hợp.
Chị H không yêu cầu anh Đ thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
2.3. Về chia tài sản: Chị Văn Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử miễn xét.
Về án phí: Buộc chị Văn Thị H phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 238; các Điều 271; 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82; 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Văn Thị H được ly hôn với anh Hồ Trung Đ.
2. Về nuôi con chung:
2.1. Giao cho chị Văn Thị H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung của chị H và anh Đ là Hồ A, sinh ngày 18 tháng 10 năm 2014, cho đến khi con chung đủ 18 tuổi trưởng thành.
2.2. Chị H không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
2.3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
3. Về chia tài sản: Chị Văn Thị H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về án phí: Chị Văn Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) mà chị H đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0002996 ngày 21/4/2026, tại Thi hành án dân sự tỉnh N (chị H đã nộp đủ tiền án phí).
5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận - Các đương sự; - VKSND khu vực 8 - Nghệ An; - TAND tỉnh Nghệ An; - Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An; - UBND phường Thái Hòa (ghi vào sổ hộ tịch); - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Văn Diên |