- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/01/2024.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 123/2024/HS-ST Ngày: 28 - 5 - 2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Minh Thảo
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Đức Nhân
Bà Lê Thị Ánh Sáng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đồng - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 109/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 112/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T, sinh năm 1985 tại Đồng Nai; giới tính: Nam; nơi đăng ký thường trú: Ấp 7, xã AP, huyện LT, tỉnh ĐN; Nơi sinh sống: Ấp 5, xã AP, huyện LT, tỉnh ĐN; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Lớp 0/12; Con ông Nguyễn Văn Q (đã chết) và bà Nguyễn Thị M (đã chết); Chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 12/01/2024, chuyển tạm giam từ ngày 21/01/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Long Thành (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 14 giờ 45 phút ngày 12/01/2024 Công an huyện Long Thành phối hợp Công an xã APkiểm tra hành chính nhà trọ của ông Phan Tuất Thái làm chủ tại Ấp 8, xã An Phước, huyện Long Thành. Qua kiểm tra phòng trọ số 18 do Nguyễn Văn T thuê ở, trong phòng có T và Trần Thị Ngọc Thuỷ sinh năm 1972, ngụ đường Hùng Vương, Phường 9, Quận 6, thành phố Hồ Chí Minh phát hiện trên bàn có 01 túi ny lon dạng túi Zip kích thước 07cm x 4,4 cm, bên trong có chứa tinh thể màu trắng là ma tuý tổng hợp. T khai mua vào ngày 10/01/2024 của một người đàn ông tên Ba (không rõ nhân thân lai lịch) đứng bán cách phòng trọ của T 300 mét với giá 500.000 đồng rồi mang về cất sử dụng dần. Ngày 12/01/2024 bà Trần Thị Ngọc Thuỷ đến phọng trọ của T chơi được khoảng 05 phút thì lực lượng Công an huyện Long Thành phối hợp Công an xã APkiểm tra, phát hiện lập biên bản phạm tội quả tang và chuyển hồ sơ đến Công an huyện LongThành giải quyết theo thẩm quyền.
Vật chứng thu giữ: 01 túi ny lon dạng túi Zip kích thước 07cm x 4,4 cm đã được niêm phong được hoàn lại sau khi giám định số 116/KL- KTHS ngày 18/01/2024.
Tại bản kết luận giám định số 116/KL- KTHS ngày 18/01/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,3246 gam loại Methamphetamine.
Tại bản Cáo trạng số 113/CT-VKSLT ngày 22/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy ” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long thành giữ nguyên quyết định truy tố theo bản Cáo trạng và đề nghị:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).
Căn cứ Điều 249 Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Nguyễn Văn T mức án từ 14 tháng đến 16 tháng tù.
Đối với người đàn ông tên Ba có hành vi bán ma túy cho T nhưng hiện không xác định rõ nhân thân lai lịch, Cơ quan điều tra Công an huyện Long Thành tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.
Đối với Trần Thị Ngọc Thuỷ là bạn của T đến phòng trọ của T chơi chứ không có liên quan hành vi phạm tội của T nên Cơ quan điều tra không xử lý.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy 01 phong bì được niêm phong chứa ma túy được hoàn lại sau khi giám định số 116/KL- KTHS ngày 18/01/2024.
Bị cáo Nguyễn Văn T nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo là sai, kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Long Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về căn cứ kết tội và điều luật áp dụng: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Cụ thể: Vào lúc 14 giờ 45 phút ngày 12/01/2024 tại phòng trọ số 18 do Nguyễn Văn T thuê thuộc Ấp 5, xã An Phước, huyện Long Thành, T có hành vi tàng trữ 01 túi nylon dạng túi Zip kích thước 07cm x 4,4 cm có chứa ma tuý loại Methamphetamine, khối lượng 0,3246 gam mục đích cất trữ để sử dụng thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt giữ cùng tang vật.
Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội và hình phạt áp dụng: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến an toàn trật tự tại địa phương. Việc tàng trữ và sử dụng trái phép chất ma túy là nguyên nhân dẫn đến những thiệt hại về tài sản, là nguồn lây lan nhiều căn bệnh nguy hiểm, là nguyên nhân gia tăng các loại tội phạm về hình sự. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Đối với người đàn ông tên Ba có hành vi bán ma túy cho T nhưng hiện không xác định rõ nhân thân lai lịch, Cơ quan điều tra Công an huyện Long Thành tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.
Đối với Trần Thị Ngọc Thuỷ là bạn của T đến phòng trọ của T chơi chứ không có liên quan hành vi phạm tội của T nên Cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp.
Biện pháp tư pháp: Đối với 01 túi ny lon dạng túi Zip kích thước 07cm x 4,4 cm đã được niêm phong được hoàn lại sau khi giám định số 116/KL- KTHS ngày 18/01/2024 là vật cấm tàng trữ nên tịch thu tiêu hủy theo quy định.
Đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định trên nên chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội và bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/01/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 túi ny lon dạng túi Zip kích thước 07cm x 4,4 cm đã được niêm phong chứa ma túy có khối lượng 0,2998gam được hoàn lại sau khi giám định số 116/KL- KTHS ngày 18/01/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai.
Vật chứng nêu trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Thành theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 24 tháng 4 năm 2024.
3. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; -VKSND tỉnh Đồng Nai; - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai; - VKSND huyện Long Thành; - Công an huyện Long Thành; - Chi cục THADS huyện Long Thành; - NTG Công an huyện Long Thành; - Bị cáo; - Lưu HS; THA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Minh Thảo |