vanban.org

Bản án 123/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho chị Lê Thị Mai C được ly hôn anh Nguyễn Minh T.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Việt T, sinh ngày 15/11/2011, Nguyễn Thị Thiên K, sinh ngày 07/8/2013 và Nguyễn Minh Tấn T (Nguyễn Minh Thiên T), sinh ngày 08/02/2020 cho anh T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Chị C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị Mai C - Nguyễn Minh T"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Lê Thị Mai C được ly hôn anh Nguyễn Minh T.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PL
TỈNH BL

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 123/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 26/7/2024
V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PL – TỈNH BL

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Ngọc Như

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Mai Quốc Bảo

2. Bà Dương Thị Tú Phương

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện PL, tỉnh BL.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện PL, tỉnh BL tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Vũ Loan – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện PL xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 163/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 205/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị Mai C, sinh năm 1988. Địa chỉ: ấp PHT, thị trấn PL, huyện PL, tỉnh BL. (Vắng mặt)

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Minh T, sinh năm 1987. Địa chỉ: ấp PHT, thị trấn PL, huyện PL, tỉnh BL. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, lời khai có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn chị Lê Thị Mai C trình bày:

Về hôn nhân: Chị C và anh T xây hôn nhân từ năm 2010, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Uỷ ban nhân dân thị trấn PL cấp giấy chứng nhận kết hôn. Vợ chồng chị đã ly thân từ năm 2021 đến nay do vợ chồng sống chung không hợp nhau, thường xuyên mâu thuẫn không thể hàn gắn được. Nay chị C yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Minh T.

Về con chung: Chị C và anh T có ba người con chung là Nguyễn Thị Việt T, sinh ngày 15/11/2011, Nguyễn Thị Thiên K, sinh ngày 07/8/2013 và Nguyễn Minh Tấn T (Nguyễn Minh Thiên T), sinh ngày 08/02/2020. Khi ly hôn, chị yêu cầu giao ba người con chung cho anh T tiếp tục nuôi, chị C không cấp dưỡng nuôi con.

Về T sản chung và nợ chung: Chị C không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Nguyễn Minh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt nên Tòa án không lấy được lời khai.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P Lphát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự. Đối với nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, bị đơn chưa chấp hành quy định tại khoản 15, 16 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án:

+ Về hôn nhân: Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cho chị C được ly hôn với anh T.

+ Về con chung: Giao con chung Nguyễn Thị Việt T, sinh ngày 15/11/2011, Nguyễn Thị Thiên K, sinh ngày 07/8/2013 và Nguyễn Minh Tấn T (Nguyễn Minh Thiên T), sinh ngày 08/02/2020 cho anh T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Chị C có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được quyền cản trở.

+ Về cấp dưỡng: Do đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

+ Về T sản chung và nợ chung: Do đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

+ Về án phí: Chị C phải chịu 300.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các T liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng: Chị C khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh T, anh T đang cư trú trên địa bàn huyện PL nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án nhân dân huyện PL thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền. Anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, chị C có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử giải quyết vắng mặt chị C và anh T là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Chị C và anh T tự nguyện sống chung từ năm 2010 và có đăng ký kết hôn đúng theo quy định. Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị C và anh T là hôn nhân hợp pháp, T nhiên chị C và anh T đã ly thân từ năm 2021 đến nay. Xét thấy theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình thì vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, nhưng chị C và anh T không sống chung với nhau mà hai bên không có hành động gì để hàn gắn hôn nhân. Mặc khác, Tòa án đã triệu tập anh T nhiều lần nhưng anh T vẫn không đến, như vậy anh T đã bỏ mặc quan hệ hôn nhân này. Từ đó cho thấy, hôn nhân của chị C và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị C, cho chị C được ly hôn với anh T.

Về con chung: Căn cứ theo T liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của chị C thì chị C và anh T có ba người con chung là Nguyễn Thị Việt T, sinh ngày 15/11/2011, Nguyễn Thị Thiên K, sinh ngày 07/8/2013 và Nguyễn Minh Tấn T (Nguyễn Minh Thiên T), sinh ngày 08/02/2020, hiện các cháu đang sống với anh T. Chị C yêu cầu giao ba con chung cho anh T tiếp tục nuôi. Anh T đã được Tòa án thông báo về việc yêu cầu về con chung của chị C nhưng anh T không có ý kiến gì đối với yêu cầu của chị C. Xét thấy, từ khi chị C và anh T ly thân đến nay, anh T là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu T, cháu K và cháu T. Mặc khác, tại biên bản lấy ý kiến ngày 03/5/2024 cháu K có nguyện vọng sống cùng với anh T. Đối với cháu T, Tòa án không liên hệ được để lấy ý kiến của cháu. Đồng thời, căn cứ vào lời trình bày của chị C, hiện tại cháu T, cháu K và cháu T vẫn phát triển tốt. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, để bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của cháu T, cháu K và cháu T, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị C: Giao cháu Nguyễn Thị Việt T, sinh ngày 15/11/2011, Nguyễn Thị Thiên K, sinh ngày 07/8/2013 và Nguyễn Minh Tấn T (Nguyễn Minh Thiên T), sinh ngày 08/02/2020 cho anh T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Chị C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về T sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Từ những nhận định trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Chị C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không có giá ngạch là 300.000 đồng. Anh T không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ vào các Điều 19, 56, 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tên xử:

1. Về hôn nhân: Cho chị Lê Thị Mai C được ly hôn anh Nguyễn Minh T.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Việt T, sinh ngày 15/11/2011, Nguyễn Thị Thiên K, sinh ngày 07/8/2013 và Nguyễn Minh Tấn T (Nguyễn Minh Thiên T), sinh ngày 08/02/2020 cho anh T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Chị C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về cấp dưỡng: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

4. Về T sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

5. Về án phí: Chị Lê Thị Mai C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không có giá ngạch là 300.000 đồng. Chị C đã dự nộp số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006840 ngày 03/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện PL nên được chuyển sang thu án phí.

Anh Nguyễn Minh T không phải chịu án phí.

6. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tên án. Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo 15 ngày được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ