vanban.org

Bản án 123/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. Việt Trì, tỉnh Phú Thọ Tuyên án 21/02/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Quách Vĩnh H1 phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Quách Vĩnh H1 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 13/6/2023. Về hình phạt bổ sung: Tịch thu sung quỹ Nhà nước: Số tiền 190.000 đồng (Một trăm chín mươi nghìn đồng) và 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPH… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Quách Vĩnh H1 phạm tội Tàng trữ trái phép chẩt ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Quách Vĩnh H1 phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 123/2023/HSST
Ngày 21 tháng 9 năm 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

+ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Hồng Vân

+ Các Hội thẩm nhân dân:1. Ông Nguyễn Ngọc Hà

2. Ông Nguyễn Duy Tính.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Minh Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thanh Vân - Kiểm sát viên.

Trong ngày 21 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 129/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2023; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 124/2023/QĐXX-HS ngày 08 tháng 9 năm 2023; đối với bị cáo:

Họ và tên: Quách Vĩnh H1; sinh năm 1984; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Tổ 25A, khu L, phường G, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Quách Văn T1, sinh năm 1954 và bà Cao Thị h2, sinh năm 1961, Vợ Lưu Thị Ngọc Ánh, sinh năm 2003 và có 01 con, sinh năm 2021;

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

+ Bản án Hình sự sơ thẩm số 42/HS-ST ngày 19/3/2003, của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì xử phạt Quách Vĩnh H1 18 tháng tù về tội: “Cưỡng đoạt tài sản” và 30 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp hình phạt chung của cả hai tội là 48 tháng tù giam. Trị giá tài sản trộm cắp: 2.850.000đ, cưỡng đoạt tài sản: 135.000đ. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù và đã nộp án phí. Đối với phần bồi thường dân sự cho các bị hại, Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì không thụ lý khoản bồi thường trên.

+ Bản án Hình sự sơ thẩm số 02/2007/HS-ST ngày 15/01/2008, của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì xử phạt Quách Vĩnh H1 09 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Trị giá tài sản trộm cắp: 420.000đ. H1 chấp hành xong hình phạt tù và đã nộp án phí.

+ Bản án hình sự sơ thẩm số 79/2011/HSST ngày 27/4/2011, của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì xử phạt Quách Vĩnh H1 08 năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. H1 chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/12/2018. Ngày 20/7/2011, H1 đã nộp án phí.

+ Quyết định số 5986/QĐ-UBND ngày 10/10/2008 của UBND thành phố Việt Trì quyết định: Áp dụng biện pháp đưa người nghiện ma tuý vào T2 tâm Giáo dục-Lao động xã hội tỉnh đối với H1 đi cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng kể từ ngày 16/10/2010. Ngày 16/10/2010, H1 chấp hành xong.

+ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 177/QĐ-XPHC ngày 04/11/2021, của Công an huyện Lâm Thao, xử phạt H1 2.500.000đ về hành vi “Xâm hại đến sức khỏe của người khác”. Ngày 16/11/2021; H1 đã nộp tiền phạt.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/6/2023; Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phốViệt Trì, tỉnh Phú Thọ;

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 16 giờ 15 phút ngày 13/6/2023, tổ công tác của Công an thành phố Việt Trì đang làm nhiệm vụ tại khu vực thuộc tổ 3, khu T1, phường Dữu Lâu, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, phát hiện một người đàn ông có biểu hiện vi phạm pháp luật. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra người này tự khai tên là Quách Vĩnh H1, sinh ngày 21/5/1984, nơi đăng ký HKTT: Tổ 25A, khu L, phường G, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. H1 đã tự giác giao nộp cho tổ công tác 01(một) gói giấy có đặc điểm mặt ngoài và mặt trong đều màu trắng, có dòng kẻ và chữ in, bên trong có chứa chất bột cục màu trắng H1 đang cầm ở tay trái. H1 khai đây là gói ma túy Heroine của H1 mục đích để sử dụng. Tại chỗ cơ quan Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Quách Vĩnh H1, thu giữ và niêm phong 01 gói ma tuý có đặc điểm như đã nêu trên theo quy định. Ngoài ra còn thu giữ: số tiền: 190.000đ (Một trăm chín mươi nghìn đồng); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ màu trắng, mặt sau bị nứt vỡ, số IMEI: 35729809195XXXX kèm sim số: 096336XXXX đã qua sử dụng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố Việt Trì ra Quyết định trưng cầu giám định đối với chất bột, cục màu trắng đã thu giữ của H1. Tại bản Kết luận giám định số 810/KL-KTHS ngày 16/6/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ, kết luận:

“Chất bột, cục màu trắng chứa bên trong 01 gói giấy gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng là: 0,170 gam, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.”

Hoàn trả lại đối tượng sau khi giám định: 0,137 gam chất bột, cục màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định, được niêm phong dán kín trong 01 túi niêm phong, bên ngoài túi niêm phong có đóng 03 dấu hình tròn màu đỏ của Phòng KTHS - Công an tỉnh Phú Thọ và chữ ký của các thành phần liên quan tại các mép dán.

Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ khi bị bắt quả tang, Quách Vĩnh H1 khai nhận: Do bản thân có nhu cầu sử dụng ma tuý heroine nên khoảng hơn 15 giờ, ngày 13/6/2023, H1 một mình đi bộ từ nhà đến nhà của Vũ Thành T2, sinh năm 1983, nơi đăng ký HKTT: Khu Quế Trạo, phường Dữu Lâu, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ là bạn quen biết với H1, hỏi và mua được của T2 01 gói ma túy có đặc điểm là gói giấy mặt ngoài và mặt trong đều màu trắng có dòng kẻ và in chữ, bên trong có chứa chất bột cục màu trắng là ma túy Heroine với giá 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng). Sau đó, H1 cầm gói ma túy mua được ở tay trái đi bộ về, đến khu vực gần quán Phường Nướng thuộc phường Dữu Lâu, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ thì có tổ công tác của Công an thành phố Việt Trì phát hiện, kiểm tra, bắt quả tang và thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Cơ quan Cảnh sát điều tra còn làm rõ ngày 12/6/2023, H1 mua 01 (Một) gói ma túy Heroine của một người đàn ông không quen biết tại khu vực nghĩa trang thuộc phường Bạch Hạc, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ với giá 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng); sau đó, H1 đã sử dụng hết cho bản thân.

Kết quả xét nghiệm ma tuý (test nhanh nước tiểu) ngày 13/6/2023 của Quách Vĩnh H1: Dương tính với nhóm MOP, kết quả: Có sử dụng chất ma tuý.

Về điều kiện kinh tế của bị cáo: Qua xác minh, Cơ quan CSĐT xác định bị cáo H1 không có việc làm ổn định,ngoài đồ dùng sinh hoạt hàng ngày và tài sản đang bị thu giữ, bị cáo không có tài sản riêng gì có giá trị.

Tại Cáo trạng số: 125/CT-VKS-VT ngày 06 tháng 9 năm 2023, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, truy tố bị cáo Quách Vĩnh H1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại Điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố; Sau khi luận tội, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Quách Vĩnh H1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; Áp dụng Điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt bị cáo Quách Vĩnh H1 từ 15 (Mười lăm) tháng tù đến 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 13/6/2023).

- Về hình phạt bổ sung áp dụng khoản 5 điều 249 BLHS tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 190.000đ và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ màu trắng, mặt sau bị nứt vỡ, số IMEI: 35729809195XXXX

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Buộc bị cáo pH1 chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung:

- Đánh giá các chứng cứ buộc tội đối với bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Quách Vĩnh H1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như sau: Hồi 16 giờ 15 phút, ngày 13/6/2023; tại tổ 3, khu T1, phường Dữu Lâu, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, Quách Vĩnh H1 có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng 0,170 gam là chế phẩm Heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng.

Lời khai nhận tội của bị cáo Quách Vĩnh H1 phù hợp với thời gian, địa điểm nơi xảy ra vụ án và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở và căn cứ pháp lý để kết luận bị cáo Quách Vĩnh H1 đã phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, như cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

…

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”

- Đánh giá tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý mà còn thể hiện sự coi thường bất chấp pháp luật, gây bức xúc trong dư luận quần chúng nhân dân và gây mất trật tự trị an xã hội. Vì vậy, cần pH1 xử phạt thật nghiêm mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung về tội phạm cho xã hội.

- Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo H1 thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải; Bố đẻ bị cáo là ông Quách Văn T1 được tặng thưởng Huân chương chiến sỹ giải phóng hạng ba. Nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tuy bị báo không pH1 chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, nhưng bị cáo H1 có nhân thân rất xấu, đã từng 03 lần bị Tòa án xử phạt về hành vi phạm tội, trong đó có 01 hành vi phạm tội về ma túy, đến nay đều đã được xóa án tích, nhưng như vậy, thể hiện bị cáo là người coi thường pháp luật. Vì vậy, khi quyết định hình phạt cần pH1 cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người tốt, có ích sau này cho xã hội.

[3]. Về hình phạt bổ sung: Qua xác minh, Cơ quan điều tra xác định bị cáo H1 không có công ăn việc làm ổn định. Tại nơi đăng ký hộ khẩu thường trú ngoài đồ dùng sinh hoạt hàng ngày thì không có tài sản riêng gì có giá trị ngoài số tài sản mà cơ quan Công an thu giữ gồm: 190.000 đồng (Một trăm chín mươi nghìn đồng) và 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE vỏ màu trắng, mặt sau bị nứt vỡ. Số tài sản này là của H1, chiếc điện thoại H1 dùng để liên lạc hàng ngày, không sử dụng vào hành vi phạm tội. Nhưng xét thấy, cần áp dụng khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự tịch thu sung quỹ Nhà nước là phù hợp.

[4]. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 0,137 gam loại Heroine còn lại sau giám định, đựng trong 01 (một) bì niêm phong số 810/KL-KTHS ngày 16/6/2023, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ hoàn trả sau giám định là vật cấm lưu hành và 01 Sim điện thoại thu giữ của bị cáo H1 do không có giá trị sử dụng là phù hợp.

[5]. Các vấn đề khác:

- Đối với T2 là người đã bán ma túy cho H1, nhưng do T2 không thừa nhận việc bán ma túy cho bị cáo H1 như bị cáo đã khai và người đàn ông bán ma túy cho bị cáo H1 vào ngày 12/6/2023, do bị cáo H1 không xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể, nên Cơ quan CSĐT không đủ căn cứ điều tra, làm rõ để xử lý là phù hợp.

- Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của bị cáo H1, Công an thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, với hình thức phạt là: Cảnh cáo đối với H1, là phù hợp.

[6]. Về án phí: Buộc bị cáo pH1 chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[7]. Xét đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa, là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: Điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; Điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 136; Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH.14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

2. Tuyên bố bị cáo Quách Vĩnh H1 phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

3. Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Quách Vĩnh H1 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 13/6/2023.

4. Về hình phạt bổ sung: Tịch thu sung quỹ Nhà nước: Số tiền 190.000 đồng (Một trăm chín mươi nghìn đồng) và 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE vỏ màu trắng, mặt sau bị nứt vỡ, số IMEI: 35729809195XXXX; (Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06/9/2023, giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ).

5. Về xử lý vật chứng:

+ Tịch thu tiêu hủy: 0,137 gam loại Heroine còn lại sau giám định, đựng trong 01 (một) bì niêm phong số 810/KL-KTHS ngày 16/6/2023, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ hoàn trả sau giám định và 01 Sim điện thoại thu giữ của bị cáo H1. (Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06/9/2023, giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ).

6. Về án phí: Buộc bị cáo Quách Vĩnh H1 pH1 chịu 200.000 đồng, (Hai trăm nghìn đồng), tiền án phí hình sự sơ thẩm.

7. Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ