- Tranh chấp gì? án hình sự — "La Văn M - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Phạt bị cáo La Văn M 5.
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 123 /2023/HS - ST Ngày 22/9/2023. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Kim Phượng
Các hội thẩm nhân dân: Bà Lý Thanh Thủy
Bà Mã Thị Vui
- Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thanh Huyền - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 22/9/2023 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 111/2023/TLST- HS ngày 28/8/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2023/QĐXXST - HS ngày 31 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:
LA VĂN M; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 14/8/1989. Tại thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Nơi cư trú: Thôn C, xã H, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: La Văn D và bà Phan Thị C (đã chết); Bị cáo có vợ: Mai Thị Thúy H - Sinh năm 1987 (đã ly hôn); Bị cáo có 02 con. Con lớn sinh năm 2011 và con nhỏ sinh năm 2015; Tiền án: Không; Tiền sự: 01 tiền sự. Tại quyết định số: 177/ 2021/QĐ- TA ngày 31/12/2021 bị Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại: Cơ sở cai nghiện thành phố Lào Cai. Với thời hạn 12 tháng từ ngày 11/11/2021 đến ngày 11/11/2022. Bị cáo La Văn M đã chấp hành xong. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/6/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Lào Cai. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 31/5/2023, La Văn M đang ở nhà tại thôn C, xã H, thành phố Lào Cai thì nảy sinh ý định đi mua ma túy về để sử dụng cho bản thân. La Văn M điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 24B2 – 424.19 đi đến khu vực cửa hàng xăng dầu thuộc thôn V, xã M, thị xã S, tỉnh Lào Cai và mua của một người phụ nữ không quen biết 01 gói ma túy được gói bằng nilon màu xanh với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, La Văn M cất gói ma túy vào túi quần bên phải rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà. La Văn M mở gói ma túy và lấy một ít ma túy cho vào mảnh giấy bạc gói lại và cất ở túi quần bên phải đang mặc, số ma túy còn lại, La Văn M gói lại và cất giấu ở khe gỗ của gian để đồ trong nhà. Đến khoảng 09 giờ 45 phút ngày 01/6/2023, La Văn M mang theo 01 gói ma túy và điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 24B2 – 424.19 đến khu vực ven đường tỉnh lộ 156B thuộc thôn C, xã H, thành phố Lào Cai để sử dụng ma túy thì bị tổ công tác của Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Lào Cai phối hợp với Công an xã H phát hiện bắt quả tang. Thu giữ trong túi quần bên phải La Văn M 01 gói giấy bạc, bên trong chứa chất bột khô màu trắng, vón cục (La Văn M khai nhận là Heroine), ngoài ra còn thu giữ của La Văn M 01 xe mô tô biển kiểm soát 24B2 – 424.19 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lào Cai đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của La Văn M: Thu giữ 01 túi nilon màu xanh, bên trong chứa các cục chất bột khô màu trắng, vón cục (La Văn M khai nhận là Heroine), tiền Việt Nam: 1.740.000 đồng.
Tại kết luận giám định về ma túy số: 179/KL- GĐMT ngày 03/6/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai đã kết luận: Mẫu M1: 0,50 gam; Mẫu M2: 2,74 gam các cục chất bột khô màu trắng gửi giám định đều là loại chất ma túy Heroine.
Cáo trạng số: 109/CT-VKS ngày 25/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai truy tố bị cáo La Văn M về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 - Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo La Văn M về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo La Văn M phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 - Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo La Văn M từ 02(Hai) năm 09 (Chín) tháng ®Õn 03(Ba) n¨m tù. ¸p dông h×nh ph¹t bæ sung lµ “Ph¹t tiÒn” tõ 5.000.000đồng đến 10.000.000đồng ®èi víi bÞ c¸o.
Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 - Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 - Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 2,86 (Hai phẩy tám mươi sáu) gam Heroine cßn l¹i sau trích mẫu giám định cùng toàn bộ niêm phong cũ được đựng trong bì thư tái niêm phong cã ch÷ ký cña hai bªn giao nhËn vµ dÊu cña phßng KTHS - C«ng an tØnh Lµo Cai. B× niªm phong cã ghi: “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang và khi khám xét chỗ ở của La Văn M ngày 01/6/2023 tại thôn C, xã H, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai”.
Tạm giữ 01 xe mô tô biển kiểm soát 24B2 – 424.19; số khung RLHJA 3642GY144691; số máy JA 36E0673745 (đã qua sử dụng) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO (đã qua sử dụng) và số tiền 1.740.000 đồng của bị cáo La Văn M để đảm bảo thi hành án. Hiện đang được tạm gửi tại Kho bạc Nhà nước Lào Cai.
Tuyên án phí và quyền kháng cáo đối với bị cáo theo quy định của pháp luật.
Bị cáo La Văn M nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Công an tỉnh Lào Cai, Công an thành phố Lào Cai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo La Văn M khai nhận: Ngày 01/6/2023, bị cáo La Văn M đã đi mua 3,24 (Ba phẩy hai mươi bốn) gam Heroine với giá 500.000đồng (Năm trăm nghìn đồng). Mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang.
Lêi khai nhËn téi cña bÞ c¸o tại phiên toà hoµn toµn phï hîp víi lêi khai t¹i c¬ quan ®iÒu tra, phï hîp víi lêi khai người lµm chøng, phù hợp với bản kết luận giám định cïng c¸c tµi liÖu chøng cø khác cã trong hå s¬ vụ án. Như vậy đã đủ căn cứ kết luận hành vi tàng trữ 3,24 (Ba phẩy hai mươi bốn) gam ma túy Heroine của bị cáo đã cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 - Bộ luật hình sự. ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n thành phố Lào Cai truy tè bÞ cáo lµ hoµn toµn đúng người, đúng téi, ®óng ph¸p luËt.
Hµnh vi ph¹m téi cña bÞ c¸o lµ nguy hiÓm cho x· héi, ®· x©m ph¹m ®Õn chÝnh s¸ch ®éc quyÒn qu¶n lý c¸c chÊt ma tuý cña Nhà nước ta, g©y mÊt trËt tù trÞ an t¹i ®Þa phương. V× vËy cÇn ph¶i xö ph¹t bÞ c¸o mét møc ¸n thËt tương xứng víi tÝnh chÊt møc ®é hµnh vi ph¹m téi cña bÞ c¸o ®· g©y ra míi cã t¸c dông c¶i t¹o bÞ c¸o.
Về các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo.
Về nhân thân: Bị cáo có 01 tiền sự. Tại quyết định số: 177/ 2021/QĐ- TA ngày 31/12/2021 bị Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại: Cơ sở cai nghiện thành phố Lào Cai. Với thời hạn 12 tháng từ ngày 11/11/2021 đến ngày 11/11/2022. Bị cáo La Văn M đã chấp hành xong, chưa được xóa tiền sự. Bị cáo La Văn M không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Hội đồng xét xử xét thấy t¹i c¬ quan ®iÒu tra vµ t¹i phiªn toµ bÞ c¸o thµnh khÈn khai nhËn hµnh vi ph¹m téi cña m×nh. Gia đình bị cáo có bố đẻ là ông La Văn D được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhì và được Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai tặng Giấy khen vì đã có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua thực hiện công tác Thương binh liệt sỹ người có công và phong trào “ Đền ơn đáp nghĩa” năm 2012. V× vËy cÇn ¸p dông ®iÓm s kho¶n 1, khoản 2 §iÒu 51 - Bộ luật hình sự ®Ó gi¶m nhÑ mét phÇn h×nh ph¹t cho bÞ c¸o lµ phï hîp.
Về hình phạt bổ sung: XÐt thÊy cÇn ph¶i ¸p dông h×nh ph¹t bæ sung lµ “Ph¹t tiÒn” ®èi với bÞ c¸o, lµ hoµn toµn ®óng theo quy ®Þnh t¹i kho¶n 5 §iÒu 249 - Bộ luật hình sự.
Về vật chứng: Số lượng 3,24 (Ba phẩy hai mươi bốn) gam Heroine thu giữ của bị cáo cơ quan điều tra đã trích mẫu 0,38 (Không phẩy ba mươi tám) gam và đã sử dụng hết trong quá trình giám định. Số lượng Heroine còn lại là 2,86 (Hai phẩy tám mươi sáu) gam. Đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ. Vì vậy cần tịch thu tiêu huỷ.
Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 24B2 – 424.19; số khung RLHJA 3642GY144691; số máy JA 36E0673745 (đã qua sử dụng) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO (đã qua sử dụng) tại thời điểm giao nhận máy không hoạt động nên không kiểm tra thực tế số Imei và số điện thoại và số tiền 1.740.000đồng thu giữ của bị cáo La Văn M. Xét thấy không phải là vật chứng của vụ án nhưng bị cáo La Văn M còn phải thi hành khoản tiền án phí và khoản tiền phạt. Vì vậy, cần tạm giữ của bị cáo La Văn M 01 xe mô tô biển kiểm soát 24B2 – 424.19; số khung RLHJA 3642GY144691; số máy JA 36E0673745 (đã qua sử dụng) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO (đã qua sử dụng) tại thời điểm giao nhận máy không hoạt động nên không kiểm tra thực tế số Imei và số điện thoại và số tiền 1.740.000đồng.
Về các vấn đề khác: Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho bị cáo La Văn M vào ngày 31/5/2023 tại khu vực cửa hàng xăng dầu thuộc thôn V, xã M, thị xã S, tỉnh Lào Cai. Do bị cáo La Văn M không biết tên, tuổi của người phụ nữ này nên Cơ quan điều tra không xác định được nhân thân lai lịch nên không đề cập xử lý.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 - Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo La Văn M phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Phạt bị cáo La Văn M 02(Hai) năm 09 (Chín) tháng tù.Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 01/6/2023.
Phạt bị cáo La Văn M 5.000.000đồng (Năm triệu đồng) sung quỹ Nhà nước.
2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 - Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 - Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 2,86 (hai phẩy tám mươi sáu) gam Heroine cßn l¹i sau trích mẫu giám định cùng toàn bộ niêm phong cũ được đựng trong bì thư tái niªm phong cã ch÷ ký cña hai bªn giao nhËn vµ dÊu cña phßng KTHS - C«ng an tØnh Lµo Cai. B× niªm phong cã ghi: “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang và khi khám xét chỗ ở của La Văn M ngày 01/6/2023 tại thôn C, xã H, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai”.
Tạm giữ 01 xe mô tô biển kiểm soát 24B2 – 424.19; số khung RLHJA 3642 GY 144691 số máy JA36E0673745 (đã qua sử dụng) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO (đã qua sử dụng). Tại thời điểm giao nhận máy không hoạt động nên không kiểm tra thực tế số Imei và số điện thoại. (Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra và Chi cục thi hành án thành phố Lào Cai ngày 05/9/2023) và số tiền 1.740.000 đồng. Hiện đang được tạm gửi tại Kho bạc Nhà nước Lào Cai (Theo giấy nộp tiền vào tài khoản giữa Cơ quan điều tra và Kho bạc Nhà nước Lào Cai ngày 25/8/2023) của bị cáo La Văn M để đảm bảo thi hành án.
3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 - Bộ luật tố tụng hình sự ; Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về ¸n phÝ, lÖ phÝ Toµ ¸n. Buộc bị cáo La Văn M ph¶i chÞu 200.000đồng (Hai tr¨m nghìn ®ång) tiÒn ¸n phÝ hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh; - VKSND TP; - Công an TP; - Trại tạm giam CAT; - Sở tư pháp; - Phòng hồ sơ CA tỉnh (PV06); - T.H.A HS(2); - Bị cáo; - Lưu HS- AV. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Lê Kim Phƣợng |