vanban.org

Bản án 123/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hóc Môn, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 19/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Lê Thanh N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Xử phạt: Lê Thanh N 02 (hai) năm, 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày 08/3/2023. Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thanh N - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Lê Thanh N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÓC MÔN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 123/2023/HS-ST
Ngày 19 - 7 - 2023.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Liên Quân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Văn Đẹp.

2. Ông Nguyễn Trung Sơn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hà Kim Thông - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Triệu - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 7 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 151/2023/TLST-HS ngày 15 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 175/2023/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Thanh N; sinh năm: 1987 tại Thành phố Hồ Ch Minh; Hộ khẩu thường trú: 60/3D ấp M, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn C (chết) và bà Võ Thị D, bị cáo có vợ; nhân thân: Ngày 20/12/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính cai nghiện bắt buộc; tiền án: Ngày 13/10/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đã chấp hành xong hình phạt tù, án ph , nhưng chưa chấp hành hình phạt bổ sung; tiền sự: không; bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 08/3/2023. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Thanh N là đối tượng nghiện ma túy nên mua ma túy của người đàn ông (không rõ lai lịch) ở khu vực Tổ 17, Ấp 4, xã X, huyện H để sử dụng. Vào lúc 10 giờ 00 ngày 08/03/2023, Lê Thanh N điều khiển xe gắn máy biển số 71K4-7708 đến giao lộ P và X27 thuộc Tổ 16, Ấp 4, xã X, huyện H bị Tổ công tác thuộc Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy phối hợp với Công an xã Xuân Thới Thượng, Hóc Môn kiểm tra phát hiện bắt quả tang Lê Thanh N đang cất giấu trái phép chất ma túy, thu giữ trong tay của Ngôn có 01 gói nylon chứa chất bột màu trắng.

Tại bản kết luận giám định số: 2188/KLGĐ-MT ngày 16/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: chất bột màu trắng trong 01 gói nylon thu giữ là ma túy ở thể rắn, loại heroine, khối lượng 0,4079g.

Tại Bản cáo trạng số: 159/CT-VKS-HS ngày 02 tháng 6 năm 2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Ch Minh đã truy tố Lê Thanh N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn giữ quyền công tố tại phiên tòa xác định: Căn cứ vào lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai tại phiên tòa của bị cáo cùng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Thanh N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt Lê Thanh N từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm 06 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hóc Môn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản ghi lời khai, bị cáo trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Thanh N khai nhận: Vào lúc 10 giờ 00 ngày 08/03/2023, Lê Thanh N điều khiển xe gắn máy đến giao lộ P và X27 thuộc Tổ 16, Ấp 4, xã X, huyện H bị Tổ công tác thuộc Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy phối hợp với Công an xã Xuân Thới Thượng, Hóc Môn kiểm tra phát hiện bắt quả tang Lê Thanh N đang cất giấu trong tay 01 gói nylon chứa Heroin do Lê Thanh N của người đàn ông (không rõ lai lịch) ở khu vực Tổ 17, Ấp 4, xã X, Hóc Môn để sử dụng đúng như nội dung cáo trạng truy tố.

Nội dung khai nhận của bị cáo Lê Thanh N tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra; phù hợp với nội dung biên bản phạm tội quả tang, phù hợp với Kết luận giám định số: 2188/KLGĐ-MT ngày 06/3/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án.

Như vậy, có đủ cơ sở chứng minh Lê Thanh N có hành vi tàng trữ 0,4079g ma túy ở thể rắn loại loại Heroine với mục đ ch để sử dụng và bị bắt quả tang vào ngày 08/03/2023 tại giao lộ P và X27 thuộc Tổ 16, Ấp 4, xã X, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh đúng như nội dung cáo trạng truy tố. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Do đó, Cáo trạng số: 159/CT-VKS-HS ngày 02 tháng 6 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố Lê Thanh N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ và đúng pháp luật.

Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:…

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR – 11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;…”

Áp dụng điều luật viện dẫn nêu trên cho thấy, hành vi phạm tội của bị cáo Lê Thanh N thuộc trường hợp nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về việc tàng trữ chất ma túy với lỗi cố ý trực tiếp, vi phạm pháp luật hình sự. Bị cáo có nhân thân xấu, có tiền án theo bản án số: 249/2014/HSST ngày 13/10/2014 của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh, xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đã chấp hành xong hình phạt tù và án ph , nhưng chưa nộp phạt 4.980.000 đồng và tiền lãi chậm thi hành án. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự. Từ đó, Hội đồng xét xử cần có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử có xem xét tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Từ đó, cần giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Ý kiến đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ và mức hình phạt đối với bị cáo của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn là có căn cứ, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với đối tượng bán ma túy cho Lê Thanh N, không rõ lai lịch, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau là phù hợp.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 gói niêm phong ghi số vụ 490/23 (KLGĐ 2188) chứa ma túy còn lại sau giám định thuộc loại vật cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy;

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung của Lê Thanh N không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo Lê Thanh N.

- Đối với 01 xe gắn máy biển số 71K4-7708, qua xác minh có cơ sở xác định ông Nguyễn Chánh T là chủ sở hữu, bị cáo Lê Thanh N là nhân viên sử dụng xe đi giao hàng. Bị cáo Lê Thanh N sử dụng xe máy của ông Nguyễn Chánh T vào việc mua ma túy ông Thành không biết. Từ đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại xe máy cho ông Nguyễn Chánh T là phù hợp.

Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Căn cứ vào Điều 47 và Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên bố: bị cáo Lê Thanh N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Xử phạt: Lê Thanh N 02 (hai) năm, 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày 08/3/2023.

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong ghi số vụ 490/23 (KLGĐ 2188) chứa ma túy còn lại sau giám định;

Trả lại cho bị cáo Lê Thanh N 01 điện thoại di động hiệu Samsung.

Vật chứng hiện nay Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn đang quản lý, theo Quyết định chuyển vật chứng số: 126/QĐ-VKS-HS ngày 02/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn và biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/6/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn.

Về án phí: Án phí hình sự sơ thẩm các bị cáo Lê Thanh N phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ