vanban.org

Bản án 123/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Dương Tuyên án 05/09/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 05/09/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Quang Tr.

Tuyên bố bị cáo Phan Quang Tr ph m tội “Vi ph m quy định về tham gia giao thông đường bộ”. X ph t bị cáo Phan Quang Tr 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian th thách là 02 (hai) năm, thời gian th thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (28/8/2023). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "260 - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Quang Tr.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 123/2023/HS-PT
Ngày 28-8-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Huỳnh Đức.

Các Thẩm phán: Ông Trương Văn Lộc.

Ông Lê Quân Vương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hữu Minh Đức - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Ông Trần Tấn Lập - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2023, t i Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương x t x phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 133/2023/TLPT-HS ngày 27 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo Phan Quang Tr do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 174/2022/HS-ST ngày 09/8/2022 Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) U, tỉnh Bình Dương.

- Bị cáo có kháng cáo:

Phan Quang Tr, sinh năm 1974 t i tỉnh Hà Tĩnh; nơi đăng ký thường trú: xóm X, xã P, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh; nơi đăng ký t m trú: nhà trọ Trần Thị Thu S7, tổ P, khu phố M, phường Q, thị xã (nay là thành phố) U, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Quang Q8 (đã chết) và bà Ngô Thị T8; có vợ là Bùi Thị Ng8 và có 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo t i ngo i có mặt t i phiên tòa.

Ngoài ra, có 02 đ i diện hợp pháp của bị h i, 02 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến t i phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phan Quang Tr, có giấy phép lái xe môtô h ng A1, số 740058 009xxx do Sở giao thông vận tải tỉnh Bình Dương cấp ngày 16/02/2016, có giá trị không thời h n.

Khoảng 20 giờ 40 phút ngày 10/5/2019, Phan Quang Tr điều khiển xe mô tô biển số 61N4-11xx lưu thông trên đường ĐH XX theo hướng ngã tư xã cũ K về hướng cây xăng A. Khi lưu thông đến đo n thuộc khu phố K, phường K, thị xã U, tỉnh Bình Dương, thì Tr điều khiển xe môtô biển số 61N4-11xx lưu thông không đúng phần đường quy định, lấn trái đường (0,9m) nên phần đầu bên trái xe mô tô biển số 61N4-11xx va ch m với phần đầu bên trái xe mô tô biển số 83P3-833.xx do SA điều khiển lưu thông trên phần đường hướng ngược l i. Sau va ch m xe mô tô biển số 61N4-11xx do Tr điều khiển tiếp tục va ch m vào xe mô tô biển số 94G1-147.XX do Th ch Hoàng E điều khiển lưu thông cùng chiều phía bên phải với xe mô tô biển số 61N4-11xx do Tr điều khiển. Hậu quả vụ tai n n giao thông làm SA bị thương tích nặng được đưa đi cấp cứu và chết t i Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Dương, Phan Quang Tr bị thương tích nặng, Th ch Hoàng E bị sây sát ngoài da, xe mô tô biển số 83P3-833.xx và xe mô tô biển số 61N4-11xx bị hư hỏng nặng, xe mô tô biển số 94G1-147.XX bị hư hỏng nhẹ.

Công an phường K thông báo vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã (nay là thành phố) U, tỉnh Bình Dương để thụ lý theo thẩm quyền.

Biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai n n giao thông thể hiện:

Hiện trường xảy ra tai n n giao thông trên đường ĐHXX thuộc khu phố K, phường K, thành phố U, tỉnh Bình Dương, mặt đường được trải nhựa phẳng rộng 10m. Trên mặt đường không có v ch sơn phân chia làn đường, 02 mép đường là phần hành lan đang được thi công, xây dựng.

Hiện trường vụ tai n n được đo vào m p đường phải theo hướng lưu thông từ cây xăng A về ngã tư xã cũ K. Lấy trụ điện số 78 trong m p đường phải theo hướng chọn là vật cố định làm điểm mốc cho toàn bộ hiện trường khoảng cách từ điểm mốc đo đến trục bánh trước xe mô tô 61N4-11xx là 14m70.

Xe mô tô biển số 61N4-11xx sau tai n n thân xe nằm ngã sang phải, đầu xe hướng m p đường phải theo hướng chọn, đuôi xe hướng m p đường trái. Khoảng cách từ trục bánh trước và trục bánh sau đo vào m p đường phải là 4,4m và 5,5m.

Xe mô tô biển số 94G1-147.XX sau tai n n thân xe nằm ngã sang phải, đầu xe hướng m p đường phải và tiếp giáp với xe mô tô 61N4-11xx, đuôi xe hướng m p đường trái. Khoảng cách từ trục bánh trước đo vào m p đường phải là 5,3m, đo đến trục bánh sau xe mô tô 61N4-11xx là 0,9m, từ trục bánh sau đo vào m p đường phải 6,3m, đo đến trục bánh sau xe mô tô 61N4-11xx là 0,9m.

Xe mô tô biển số 83P3-833.xx sau tai n n thân xe nằm ngã sang phải, đầu xe hướng ngã tư xã cũ K, đuôi xe hướng cây xăng A. Khoảng cách từ trục bánh trước và trục bánh sau đo vào m p đường phải là 0,6m và 0,2m.

Hiện trường để l i dấu vết sau:

Xe mô tô biển số 83P3-833.xx để l i vết cày dài 13m30 theo hướng cây xăng A về ngã tư Xã Cũ K. Khoảng cách từ đầu vết cày đo vào m p đường phải là 3,2m, điểm cuối vết cày trùng với gác chân trước bên phải tiếp giáp mặt đường.

Xe mô tô biển số 61N4-11xx để l i vết s t lốp dài 3,5m theo hướng ngã tư xã cũ K về cây xăng A. Khoảng cách từ đầu vết s t đo vào m p đường phải là 4,1m, đo đến đầu vết cày xe mô tô 83P3-833.xx là 2,7m, điểm cuối vết s t trùng với trục bánh trước bên phải tiếp giáp với mặt đường.

Xe mô tô biển số 94G1-147.XX sau tai n n để l i vết cày dài 1,2m theo hướng ngã tư xã cũ K về cây xăng A. Khoảng cách từ điểm đầu vết cày đo vào m p đường phải là 5m80; đo đến đầu vết s t lốp xe mô tô 61N4-11xx là 2,9m.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã (nay là thành phố) U t m giữ: Xe mô tô biển số 83P3-833.xx; xe mô tô biển số 61N4-11xx; xe mô tô biển số 94G1-147.XX; 01 Giấy phép lái xe h ng A1 mang tên Phan Quang Tr.

Kết luận giám định pháp y số 343/GĐPY ngày 14 tháng 05 năm 2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Nguyên nhân t vong của n n nhân SA là do chấn thương sọ não.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Phan Quang Tr đã bồi thường chi phí mai táng, tổn thất tinh thần, tiền s a chữa xe mô tô biển số 83P3-833.xx cho đ i diện hợp pháp của bị h i là bà Trà Thị N1 và ông D1 với tổng số tiền 50.000.000 đồng. Ông D1, bà Nương có đơn xin giảm nhẹ hình ph t cho bị cáo Phan Quang Tr.

T i Bản án hình sự sơ thẩm số 174/2022/HS-ST ngày 09/8/2022 Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) U, tỉnh Bình Dương đã tuyên x :

Tuyên bố bị cáo Phan Quang Tr ph m tội “Vi ph m quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Về hình ph t: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

X ph t bị cáo Phan Quang Tr 01 (một) năm tù, thời gian chấp hành hình ph t tù tính từ ngày bị cáo bị bắt thi hành án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về x lý vật chứng, biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 12/8/2022 bị cáo Phan Quang Tr kháng cáo với nội dung xin được hưởng án treo.

T i phiên tòa, bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

T i phiên tòa, đ i diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa trình bày quan điểm giải quyết vụ án: Sau khi ph m tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường khắc hậu quả cho đ i diện bị h i và đ i diện bị h i có đơn xin bãi n i cho bị cáo. Tòa cấp sơ thẩm x ph t bị cáo 01 năm tù về tội “Vi ph m quy định về tham gia giao thông đường bộ” là phù hợp. T i phiên tòa bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo nhưng không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới nên đề nghị Hội đồng xét x không chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án thị xã (nay là thành phố) U, tỉnh Bình Dương.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận và không trình bày lời nói sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng t i phiên tòa, Hội đồng xét x nhận định như sau:

Đơn kháng cáo của bị cáo được thực hiện trong thời h n luật định nên đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào lời khai của bị cáo và các chứng cứ tài liệu, có trong hồ sơ vụ án, xác định: ngày 10 tháng 05 năm 2019, bị cáo Phan Quang Tr điều khiển xe mô tô biển số 61N4-11xx lưu thông không đúng phần đường quy định (lấn trái đường 0,9m), không đảm bảo an toàn nên phần đầu bên trái xe mô tô biển số 61N4-11xx va ch m với phần đầu bên trái xe mô tô biển số 83P3-833.xx do bị h i SA điều khiển lưu thông trên phần đường của mình theo chiều hướng ngược l i dẫn đến tai n n giao thông. Hậu quả làm bị h i SA bị thương tích nặng và chết t i bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Dương. Hành vi của bị cáo vi ph m Điều 9 của Luật giao thông đường bộ gây hậu quả chết người. Bị cáo đã ph m tội “Vi ph m quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định t i điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Tòa án sơ thẩm xét x bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Sau khi xét x sơ thẩm, bị cáo Phan Quang Tr kháng cáo xin được hưởng án treo. Xét thấy, quá trình điều tra và t i phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tự nguyện bồi thường toàn bộ cho đ i diện hợp pháp của bị h i và được đ i diện hợp pháp của bị h i có đơn bãi n i; bị cáo là lao động chính có hoàn cảnh khó khăn, trong vụ án bị cáo cũng bị thương tích nặng (gãy xương đùi, gãy ngón tay, chấn thương đầu, mặt). Xét thấy, ngoài lần ph m tội này ra, bị cáo đều chấp hành tốt pháp luật t i địa phương, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo bị x ph t tù không quá 03 năm, không có tiền án, không có tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, s khoản 1 khỏan 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sữa đổi, bổ sung năm 2017), không có tình tiết tăng nặng, không cần chấp hành hình ph t tù cũng có khả năng tự cải t o, không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và không thuộc trường hợp không cho hưởng án treo nên bị cáo đủ điều kiện hưởng án treo theo quy định t i Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (s a đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Do đó Hội đồng xét x chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Quang Tr, s a một phần quyết định của bản án sơ thẩm về biện pháp chấp hành hình ph t đối với bị cáo.

Ý kiến của đ i diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét x không chấp nhận kháng cáo của bị cáo là chưa phù hợp nên không được Hội đồng xét x chấp nhận.

Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

Án phí hình sự phúc thẩm: kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí theo quy định t i Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,

1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Quang Tr. S a Bản án hình sự sơ thẩm: 174/2022/HS-ST ngày 09/8/2022 Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) U, tỉnh Bình Dương về hình ph t:

2. Tuyên bố bị cáo Phan Quang Tr ph m tội “Vi ph m quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58, Điều 65 của Bộ luật Hình sự;

X ph t bị cáo Phan Quang Tr 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian th thách là 02 (hai) năm, thời gian th thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (28/8/2023).

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường H, thành phố U, tỉnh Bình Dương để giám sát, giáo dục trong thời gian th thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định t i Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian th thách, người được hưởng án treo cố ý vi ph m nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình ph t tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo Phan Quang Tr không phải chịu.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời h n kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ