- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị D - Lê Văn D"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị D. Chị Nguyễn Thị D và anh Lê Văn Đ được ly hôn với nhau.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 123/2023/HNGĐ-ST Ngày: 21/9/2023. V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con ”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC - TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Đạt.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Bảy.
2. Ông Kiều Công Trường.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Minh Nguyệt – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Nhân – Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 tháng 9 năm 2023, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình đã thụ lý số: 163/2023/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 7 năm 2023 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 08/8/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 79/2023/QĐST-HNGĐ ngày 05/9/2023. Giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1977 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp S, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.
Chị D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Anh Lê Văn Đ, sinh năm 1977 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp S, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn đề ngày 26/6/2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị D trình bày: Chị D và anh Đ do tự tìm hiểu quen biết nhau trước nên tự nguyện tiến đến hôn nhân năm 1998, có tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre vào ngày 10/11/1998. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống bên phía gia đình ruột của anh Đ tại ấp S, xã T. Vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc khoảng hơn 10 năm nhưng thời gian sau đó đã phát sinh rất nhiều mâu thuẫn mất hạnh phúc do anh Đ không quan tâm chăm sóc cho vợ con vì anh Đ có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác. Do đó, vợ chồng chị đã ly thân khoảng 02 năm nay, vợ chồng đã không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau mà bỏ mặc nhau muốn sống ra sao thì sống. Thời gian ly thân, vợ chồng cũng không có gặp gỡ để bàn bạc thỏa thuận hàn gắn đoàn tụ vợ chồng. Nay do mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Đ để mỗi người có cuộc sống riêng. Về con chung: thời gian sống chung, chị và anh Đ có với nhau 02 con chung là cháu Lê Lam T, sinh ngày 02/6/1999 và cháu Lê Thị Kim X, sinh ngày 04/11/2005, hiện đang sống chung với chị D. Sau khi ly hôn, cháu T đã trưởng thành và đủ khả năng lao động nên không có yêu cầu Tòa án giải quyết, đối với cháu X chị D yêu cầu được trực tiếp nuôi, không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: chị và anh Đoàn t thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: không có.
Bị đơn anh Lê Văn Đ vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên không có lời trình bày.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình; riêng bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình.
- Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, cụ thể: Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị D; về con chung: có 02 con chung là cháu Lê Lam T, sinh ngày 02/6/1999 đã thành niên nên không đề cập và cháu Lê Thị Kim X, sinh ngày 04/11/2005 chị Nguyễn Thị D được trực tiếp nuôi, anh Lê Văn Đ không phải cấp dưỡng nuôi con do chị D không có yêu cầu; về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết nên không xem xét; về nợ chung: không có nên không đề cập.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn anh Lê Văn Đ vắng mặt tại phiên tòa không có lý do dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt chị D và anh Đ là phù hợp.
Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị D và anh Lê Văn Đ trên cơ sở quen biết nhau trước nên cả hai tự nguyện tiến đến hôn nhân, có tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre vào ngày 10/11/1998. Xét thấy, hôn nhân của chị D và anh Đ đã tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật hôn nhân gia đình nên được xem là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Sau khi kết hôn, chị D và anh Đ có thời gian sống hạnh phúc và có với nhau 02 con chung nhưng vì những mâu thuẫn trong cuộc sống gia đình mà đã dẫn đến việc chị D xin ly hôn. Tại đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, chị D cho rằng nguyên nhân mất hạnh phúc là do anh Đ không quan tâm chăm sóc cho vợ con vì anh Đ có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác; từ đó dẫn đến việc chị và anh Đ đã ly thân nhau từ năm 2021 đến nay. Xét thấy, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành mời chị D và anh Đ đến Tòa án nhiều lần để tiến hành hòa giải hôn nhân của anh chị nhưng anh Đ vẫn vắng mặt không có lý do. Điều đó chứng tỏ anh Đ không có thiện chí hàn gắn, đoàn tụ vợ chồng với chị D. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy: chị D và anh Đ là vợ chồng nhưng anh chị không quan tâm, giúp đỡ nhau để tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt mà anh chị lại bỏ mặc nhau, sống ly thân từ năm 2021 đến nay nên anh chị đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị D là phù hợp.
Về con chung: thời gian sống chung, chị D và anh Đ có 02 con chung là cháu Lê Lam T, sinh ngày 02/6/1999 và cháu Lê Thị Kim X, sinh ngày 04/11/2005, hiện đang sống chung với chị D. Sau khi ly hôn, chị D yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy: đối với cháu T đã thành niên và có khả năng lao động nên không xem xét giải quyết vấn đề nuôi con và cấp dưỡng nuôi con; đối với cháu X đang sống chung với chị D, tại biên bản lấy ý kiến con chưa thành niên thì cháu X cũng có nguyện vọng được sống chung với chị D; trong quá trình giải quyết vụ án, anh Đ cũng không có văn bản trình bày ý kiến tranh chấp về nuôi con chung với chị D. Do đó, để đảm bảo quyền lợi cho sự phát triển tốt về thể chất, sự phát triển tốt về tinh thần và bảo đảm việc học hành cho cháu X nên Hội đồng xét xử giao cháu X cho chị D được trực tiếp nuôi là hoàn toàn phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Việc chị D không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con là sự tự nguyện của chị nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về tài sản chung: chị D trình bày là chị và anh Đoàn t thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án, anh Đ cũng không có văn bản trình bày ý kiến và đơn tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn với chị D nên Hội đồng xét xử không đề cập.
Về nợ chung: chị D trình bày là không có. Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án, anh Đ cũng không có văn bản trình bày là anh và chị D có nợ chung nên Hội đồng xét xử không đề cập.
Xét thấy quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ.
Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: chị D phải chịu do chị D yêu cầu ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Về quan hệ hôn nhân: chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị D. Chị Nguyễn Thị D và anh Lê Văn Đ được ly hôn với nhau.
Về con chung: cháu Lê Lam T, sinh ngày 02/6/1999 đã thành niên và có khả năng lao động nên không đề cập. Sau khi ly hôn, chị Nguyễn Thị D được trực tiếp nuôi con chung là cháu Lê Thị Kim X, sinh ngày 04/11/2005, hiện đang sống chung với chị D; anh Lê Văn Đ không phải cấp dưỡng nuôi con do chị D không có yêu cầu.
Sau khi ly hôn, cha, mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình và các luật khác có liên quan. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình, yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về tài sản chung: chị D trình bày là chị và anh Đoàn t thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về nợ chung: chị D trình bày là không có nên không đề cập.
Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: chị Nguyễn Thị D phải chịu 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005250 ngày 07/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc nên chị không còn phải nộp thêm.
Án phí sung vào công quỹ Nhà nước.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV và THA TAND tỉnh Bến Tre; - VKSND huyện Mỏ Cày Bắc; - Chi cục THADS huyện Mỏ Cày Bắc; - UBND xã T; - Các đương sự; - Lưu (HS, VP). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Ngọc Đạt |