vanban.org

Bản án 123/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Qui Nhơn, tỉnh Bình Định Tuyên án 03/06/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trần P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trần P 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/01/2022. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trần P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ QUY NHƠN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 123/2022/HS-ST
Ngày: 03-6-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN-TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Dung

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Thọ

Bà Nguyễn Thị Vân

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đức Phong - Thư ký của Toà án nhân dân thành phố Quy Nhơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn tham gia phiên tòa: Ông Phan Tiến Lực - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 111/2022/TLST-HS ngày 31/3/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 113/2022/QĐXXST-HS ngày 04/5/2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Trần P, sinh năm 2001, tại thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định; nơi cư trú: thôn Lý Hưng, xã Nhơn Lý, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Lao động tự do: trình độ học vấn: 7/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Nguyễn Chánh T, sinh năm 1973 và bà Trần Thị Bích L, sinh năm 1977; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 16/01/2022 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố Quy Nhơn; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

1. Ông Đinh Xuân H, sinh năm 1960; trú tại: thôn Lý Hưng, xã Nhơn Lý, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định; (có mặt).

2. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1957; trú tại: thôn Lý Hưng, xã Nhơn Lý, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định; (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 13 giờ 20 phút ngày 16/01/2022, Đồn Biên phòng Nhơn Lý, thành phố Quy Nhơn phối hợp Phòng phòng chống ma túy và tội phạm Bộ đội Biên phòng tỉnh Bình Định tuần tra kiểm soát phòng, chống tội phạm về ma túy, khi đến đoạn đường trước nhà hàng Bảo Nam, thuộc thôn Lý Hưng, xã Nhơn Lý, thành phố Quy Nhơn phát hiện Nguyễn Trần P có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra, P tự nguyện giao nộp cho tổ công tác 01 gói nilon bên trong chứa các hạt tinh thể và khai nhận các hạt tinh thể trên là ma túy đá của P cất giấu để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang thu giữ. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của P tại thôn Lý Hưng, xã Nhơn Lý, thành phố Quy Nhơn, phát hiện, thu giữ trong phòng ngủ của P 09 gói nilon hàn kín chứa các hạt tinh thể nghi là ma túy, 06 ống hút bằng nhựa, 01 cân tiểu ly, 02 nỏ thủy tinh, 01 bình nhựa bên trên có gắn nỏ thủy tinh, 01 chiếc kéo. P khai nhận số chất trong các gói nilon là ma túy đá, số dụng cụ còn lại dùng để sử dụng trái phép chất ma túy.

Quá trình điều tra xác định được vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 01/01/2022, Nguyễn Trần P liên lạc với một người nam (không rõ lai lịch) hỏi mua 01 gói ma túy đá với giá 2.000.000 đồng, hẹn giao ma túy tại đoạn trước cây xăng Phương Linh (đối diện khu đô thị Kim Cúc, phường Ghềnh Ráng, thành phố Quy Nhơn). Khoảng 19 giờ cùng ngày, P đến điểm hẹn gặp người nam nói trên lấy ma túy và đưa 2.000.000 đồng cho người này rồi bỏ đi. Sau khi có ma túy, P đem về nhà ở thôn Lý Hưng, xã Nhơn Lý, thành phố Quy Nhơn rồi phân chia thành nhiều gói nhỏ và cất giấu trong tủ quần áo ở phòng ngủ và đã sử dụng một ít. Đến khoảng 13 giờ 20 phút ngày 16/01/2022, P mang theo 01 gói ma túy đá tìm nơi để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị lực lượng chức năng phát hiện bắt quả tang như nêu trên. Ngoài ra, P còn khai nhận vào khoảng đầu tháng 12/2021, P mua của người nam nói trên 01 gói ma túy đá giá 2.500.000 đồng, giao ma túy tại đoạn trước cây xăng Phương Linh, số ma túy này P đã sử dụng hết một mình.

Về nguồn gốc ma túy: Nguyễn Trần P khai nhận vào khoảng giữa tháng 11/2021, thông qua các mối quan hệ bạn bè ngoài xã hội giới thiệu một người nam có bán ma túy. P không biết họ tên, lai lịch, địa chỉ cụ thể của người này. P liên hệ mua ma túy bằng sim khuyến mãi nên không nhớ số sim, sau khi mua ma túy Phú đã vứt chiếc sim này đi và xóa hết nhật ký cuộc gọi.

Tại bản Kết luận giám định số 24/PC09 ngày 18/01/2022, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Định kết luận:

- Các hạt tinh thể đựng trong 01 gói nilon hàn kín 04 góc kích thước (1,5x1,5)cm (ký hiệu A1) gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,3353 gam là Methamphetamine.

- Các hạt tinh thể trong 09 gói nilon hàn kín 04 góc (ký hiệu A2) gửi giám định đều là ma túy, có tổng khối lượng 0,7528 gam là Methamphetamine.

Methamphetamine nằm trong danh mục chất ma túy và tiền chất có số TT là 323, danh mục II, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Tại bản cáo trạng số 47/CT-VKSQN ngày 29/3/2022 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn truy tố Nguyễn Trần P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Nguyễn Trần P thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Do đó Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Trần P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Trần P từ 12 đến 18 tháng tù.

Về xử lý vật chứng, đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy số lượng ma túy còn lại sau giám định, vỏ, bao bì đựng và dụng cụ sử dụng ma túy.

Bị cáo tự bào chữa: Bị cáo Nguyễn Trần P thừa nhận hành vi phạm tội, không bào chữa.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo Nguyễn Trần P xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Quy Nhơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị cáo Nguyễn Trần P có đầy đủ sức khỏe và trình độ học vấn, đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình mặc dù biết rõ việc sử dụng ma túy sẽ gây nghiện, gây tác hại rất lớn, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội nhưng vẫn xem thường pháp luật, Nguyễn Trần P là người nghiện ma túy nên đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng. Ngày 16/01/2022, khi đang tàng trữ trong người 01 gói nilon bên trong chứa các hạt tinh thể nghi là ma túy và cất giấu trong phòng ngủ tại nhà ở thôn Lý Hưng, xã Nhơn Lý, thành phố Quy Nhơn 09 gói nilon hàn kín chứa các hạt tinh thể nghi là ma túy thì bị phát hiện, bắt quả tang. Tại kết luận giám định số 24/PC09 ngày 18/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Định kết luận: 01 gói nilon bên trong chứa các hạt tinh thể nghi là ma túy thu trong người của bị cáo là ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 0,3353 gam và 09 gói nilon hàn kín chứa các hạt tinh thể nghi là ma túy thu trong phòng ngủ tại nhà ở của bị cáo là ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 0,7528 gam. Tổng khối lượng ma túy mà Nguyễn Trần P tàng trữ trái phép là 1.0881 gam ma túy loại Methamphetamine.

Methamphetamine nằm trong danh mục chất ma túy và tiền chất có số TT là 323, danh mục II, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ. Là chất gây nghiện, gây tác hại rất lớn, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người nên Nhà nước độc quyền quản lý, mọi việc cất giữ, mua bán, sử dụng chất này phải theo quy định đặt biệt của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Bị cáo Nguyễn Trần P có đầy đủ sức khỏe, đủ năng lực để nhận thức và điều khiển hành vi của mình nên biết rõ việc sử dụng ma túy sẽ gây nghiện, gây tác hại rất lớn, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người nhưng vẫn xem thường pháp luật, bị cáo đã tàng trữ ma túy để thỏa mãn cơn nghiện, số ma túy thu giữ của bị cáo có khối lượng 1.0881 gam ma túy loại Methamphetamine. Do đó, VKS nhân dân thành phố Quy Nhơn truy tố bị cáo Nguyễn Trần P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng tội.

Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy do bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội nên xử lý nghiêm cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo có điều kiện cai nghiện mới có tác dụng giáo dục răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét về nhân thân; tình tiết tăng nặng; giảm nhẹ của các bị cáo thì thấy: Bị cáo có nhân tốt, trước đây chưa vi phạm gì. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo có công cách mạng, Ông ngoại bị cáo (ông Trần Bá X) được Nhà nước ghi công liệt sỹ, bà cố ngoại bị cáo (bà Nguyễn Thị N) được Nhà nước truy tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam Anh Hùng” đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo an tâm cải tạo tốt.

Xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra hiện thu giữ số ma túy còn lại sau giám định, vỏ, bao bì đựng và dụng cụ sử dụng ma túy. HĐXX xét thấy đây là chất ma túy do Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, vỏ, bao bì đựng và dụng cụ sử dụng ma túy.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Trần P bị kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nên theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về vấn đề khác: Đối với một người nam đã bán ma túy cho bị cáo nhưng không biết họ tên lai lịch, cơ quan CSĐT Công an thành phố Quy Nhơn tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ theo quy định pháp luật, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trần P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trần P 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/01/2022.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 bì thư dán kín niêm phong 03 dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Định, có chữ ký của Lê Tuấn T, Đinh Mạnh T (tất cả đều 01 chữ ký), bên ngoài bì thư ghi: Hoàn lại đối tượng giám định gồm: Vỏ, bao bì đựng mẫu vật còn lại sau giám định; 0,1949 gam mẫu A1 và 0,5081 gam mẫu A2 còn lại sau giám định; 02 nỏ thủy tinh (chưa qua sử dụng); 06 ống hút bằng nhựa (chưa qua sử dụng); 01 bình nhựa bên trên có gắn nỏ thủy tinh và ống hút nhựa (đã qua sử dụng); 01 chiếc kéo bằng kim loại (đã qua sử dụng); 01 cân tiểu ly màu bạc, có nắp đậy (đã qua sử dụng). Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 05 tháng 4 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự;Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Nguyễn Trần P phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ