vanban.org

Bản án 123/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng Tuyên án 01/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tiêu Văn Th phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Tiêu Văn Th 07 (bảy) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 09/6/2022; Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Th. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tiêu Văn Th, Mua bán ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tiêu Văn Th phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRÙNG KHÁNH
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 123/2022/ HS-ST
Ngày 01 - 12 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÙNG KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bế Thị Thùy Linh.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Minh Tâm và bà Lục Thị Tuyên.

- Thư ký phiên tòa: Bà La Thị Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh - tỉnh Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh tham gia phiên tòa: Ông Lương Văn Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 12 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 122/2022/TLST - HS ngày 03 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 127/2022/QĐXXST - HS ngày 18 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:

Tiêu Văn Th, giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 16/01/1994 tại huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng;

Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: xóm L, xã Ngọc Khê, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Tiêu Văn N (đã chết) và bà: Tô Thị D (sinh năm 1958); Vợ: Lương La Thị T (sinh năm 1993) và 01 con, sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 09/6/2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. (Có mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Lương La Thị T, sinh năm 1993; trú tại: xóm L, xã Ngọc Khê, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. (Có mặt).

* Người làm chứng:

- Lưu Văn H, sinh năm 1990; trú tại: xóm L, xã Ngọc Khê, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng;

- Tô Văn T, sinh năm 1994; trú tại: xóm L, xã Ngọc Khê, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng;

- Lý Văn S, sinh năm 1999; trú tại: xóm Đ, xã Ngọc Khê, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng.

(Đều vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 18 giờ 30 phút ngày 09/6/2022, tổ công tác Đồn Biên phòng Ngọc Côn phối hợp với Phòng Phòng chống ma tuý và tội phạm Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Cao Bằng, Công an xã Đình Phong làm nhiệm vụ tại xóm B, xã Đình Phong, huyện Trùng Khánh phát hiện bắt quả tang Tiêu Văn Th, sinh năm 1994, trú tại xóm L, xã Ngọc Khê, huyện Trùng Khánh có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Thu giữ trong cạp quần lót Th đang mặc 02 (hai) gói nilon bên trong chứa cục chất bột màu trắng; 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Vsmart màu xanh dương, gắn thẻ sim số 0336647751; 01 (một) xe máy Honda Lead màu vàng biển kiểm soát 11B1-276.xx. Th khai nhận mục đích mua ma túy về để sử dụng và bán lại cho người khác.

Hồi 14 giờ 00 ngày 10/6/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trùng Khánh tiến hành cân số chất bột màu trắng thu giữ của Tiêu Văn Th có khối lượng 1,61g (một phẩy sáu một gam) và trích lấy mẫu gửi trưng cầu giám định. Tại bản kết luận giám định số 133/GĐMT ngày 22/6/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Cao Bằng kết luận: Mẫu chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là Ma túy. Loại Heroine.

Tại cơ quan điều tra, Tiêu Văn Th khai nhận bản thân nghiện ma túy từ năm 2017, ngoài việc mua ma túy về sử dụng, Th còn bán kiếm lời. Hình thức giao dịch là những người mua ma túy đến nhà gặp trực tiếp hoặc gọi điện, nhắn tin qua các ứng dụng Zalo, Wechat để trao đổi mua bán ma túy. Địa điểm bán ma túy tại nhà thuộc xóm L, xã Ngọc Khê. Nguồn gốc ma túy bị thu giữ ngày 08/6/2022 là do Th mua với một người đàn ông không quen biết tại xóm L, xã Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh với số tiền 2.400.000 đồng (hai triệu bốn trăm nghìn đồng). Th có hành vi mua bán trái phép chất ma túy từ tháng 04/2022. Th đã được bán ma túy cho những người có tên và địa chỉ sau:

Bán cho Lưu Văn H, sinh năm 1990, trú tại xóm L, xã Ngọc Khê, huyện Trùng Khánh 02 (hai) lần, mỗi lần 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng). Lần cuối bán vào ngày 8/6/2022.

Bán cho Tô Văn T, sinh năm 1994 trú tại xóm L, xã Ngọc Khê, huyện Trùng Khánh 02 (hai) lần, một lần bán với số tiền 70.000 đồng (bảy mươi nghìn đồng), lần thứ hai bán ma túy cho T 01 (một) gói với số tiền 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng) vào ngày 9/6/2022.

Bán cho Lý Văn S, sinh năm 1999 trú tại xóm Đ, xã Ngọc Khê, huyện Trùng Khánh 01 (một) lần với số tiền 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng) vào khoảng đầu tháng 6/2022.

Tổng cộng Th bán ma túy 05 (năm) lần cho 03 (ba) người nghiện với số tiền 470.000 đồng (bốn trăm bảy mươi nghìn đồng).

Lời khai của Tiêu Văn Th phù hợp với lời khai của người làm chứng về địa điểm giao dịch, số lần mua, số tiền và hình thức giao dịch.

Vật chứng của vụ án được Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng để đảm bảo việc xét xử vụ án.

Tại bản cáo trạng số 125/CT-VKSTK ngày 01 tháng 11 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh đã truy tố bị cáo Tiêu Văn Th ra trước Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng để xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Tiêu Văn Th thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh đã phản ánh đúng hành vi phạm tội của bị cáo. Đối với 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Vsmart màu xanh dương, gắn thẻ sim số 0336647751, điện thoại đã qua sử dụng bị cáo có được sử dụng để trao đổi mua bán ma túy với một số đối tượng nghiện; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead màu vàng biển kiểm soát 11B1-276.xx là tài sản chung của hai vợ chồng bị cáo. Bị cáo yêu cầu được trả lại xe cho vợ của bị cáo là Lương La Thị T. Xe đứng tên sở hữu của bị cáo, tuy nhiên khoản tiền mua xe là của hai vợ chồng bị cáo, xe mua để phục vụ nhu cầu đi lại cho cả gia đình bị cáo. Vợ bị cáo không biết bị cáo sử dụng vào mục đích mua bán trái phép chất ma túy.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lương La Thị T trình bày: Xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead màu vàng biển kiểm soát 11B1-276.xx là tài sản chung của hai vợ chồng chị, xe đứng tên chủ sở hữu là bị cáo Th. Chị không biết bị cáo Th sử dụng xe để thực hiện hành vi mua bán ma tuý trái phép nên yêu cầu được nhận lại xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead màu vàng biển kiểm soát 11B1-276.xx.

Kết thúc phần xét hỏi tại phiên tòa, Kiểm sát viên nhận định bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức về tác hại của ma túy nhưng vẫn cố tình phạm tội, căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh vẫn giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tiêu Văn Th phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt: áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Th. Xử phạt bị cáo Tiêu Văn Th từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù - 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì thư niêm phong, mặt trước phong bì ghi “vật chứng vụ: Tiêu Văn Th - Mua bán trái phép chất ma túy, xảy ra tại xóm B, xã Đình Phong, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng ngày 09/6/2022”, mặt sau phong bì có chữ ký của Tiêu Văn Th, thành phần tham gia và đóng 04 (bốn) hình con dấu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng; 01 (một) phong bì thư đã được niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “133/KL-KTHS hoàn trả mẫu sau giám định vụ Tiêu Văn Th, Mua bán trái phép chất ma túy”, mặt sau có chữ ký của Hoàng Đức H và Nông Thị Minh Ng, đóng 04 (bốn) hình dấu mực đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Cao Bằng;

- Tịch thu vào Ngân sách Nhà nước: 01 (một) phong bì thư niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “Điện thoại di động tạm giữ đối với Tiêu Văn Th, ngày 09/6/2022”, mặt sau phong bì có chữ ký của Tiêu Văn Th, thành phần tham gia và đóng 04 (bốn) hình con dấu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng; ½ giá trị chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead màu vàng biển kiểm soát 11B1-276.xx;

- Trả lại cho chị Lương La Thị T ½ giá trị chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead màu vàng biển kiểm soát 11B1-276.xx;

- Truy thu số tiền 470.000 đồng (bốn trăm bảy mươi nghìn đồng) đối với bị cáo Th do thu lợi bất chính từ hành vi mua bán ma túy có được sung vào Ngân sách Nhà nước.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để sớm được trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Trùng Khánh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Qua quá trình xét hỏi và tranh luận công khai tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án, kết hợp với các lời khai của những người làm chứng đã khai tại Cơ quan điều tra về cách thức mua bán ma túy, thời gian, địa điểm cũng như số lần mua bán ma túy đã thực hiện, đúng như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu và phù hợp với vật chứng đã thu được của bị cáo Th. Cụ thể: Vào 18 giờ 30 phút ngày 09/6/2022, tổ công tác Đồn Biên phòng Ngọc Côn phối hợp với Phòng Phòng chống ma tuý và tội phạm Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Cao Bằng, Công an xã Đình Phong làm nhiệm vụ tại xóm B, xã Đình Phong, huyện Trùng Khánh bắt quả tang Tiêu Văn Th, sinh năm 1994, trú tại xóm L, xã Ngọc Khê, huyện Trùng Khánh về hành vi mua bán trái phép chất ma tuý, thu giữ 1,61g (một phẩy sáu một gam) ma túy, loại Heroine. Mục đích Th mua ma túy về sử dụng và bán lại kiếm lời. Tiêu Văn Th đã bán ma túy 05 (năm) lần cho 03 (ba) người nghiện thu được số tiền 470.000 đồng (bốn trăm bảy mươi nghìn đồng). Ngoài ra, Th còn được bán cho nhiều người khác nhưng không nhớ tên và địa chỉ.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được và biết rõ tác hại của ma túy, hiểu được hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật và hiểu được các quy định của Nhà nước về nghiêm cấm mọi hành vi có liên quan đến ma túy nhưng thấy lợi nhuận cao từ bán ma túy nên đã bất chấp pháp luật để thưc hiện. Việc làm của bị cáo đã tiếp tay cho tệ nạn ma túy gia tăng, làm giảm sút sức lao động, hủy hoại đến sức khỏe và trí tuệ của con người, khiến dư luận và nhân dân địa phương bất bình, và là một trong những nguyên nhân làm gia tăng nhiều loại tội phạm khác; xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy; hành vi phạm tội của bị cáo còn thể hiện sự coi thường pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo Th bán ma túy nhiều lần, mỗi lần bán đều cấu thành tội phạm độc lập nên bị coi là phạm tội 02 lần trở lên, là tình tiết định khung quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn quy định tại Điều 38 Bộ luật Hình sự mới tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, cải tạo và đấu tranh phòng ngừa chung.

Do vậy, Hội đồng xét xử có đầy đủ căn cứ để kết tội bị cáo Tiêu Văn Th phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh đã truy tố bị cáo về tội danh và Điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Tiêu Văn Th không có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên, bản thân bị cáo là người nghiện ma túy nên không được coi là có nhân thân tốt. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi mua bán ma túy của mình và tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Do đó, khi quyết định hình phạt cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Th; Tình tiết tăng nặng: Không có.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Tiêu Văn Th phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và xử phạt bị cáo từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù - 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Xét thấy mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Các nhận định khác:

Về nguồn gốc số ma túy, bị cáo Tiêu Văn Th khai mua với một người đàn ông không biết tên và địa chỉ ở xóm L, xã Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trùng Khánh không có cơ sở để điều tra, xác minh và đề nghị xử lý là đúng quy định của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nguồn thu nhập ổn định, gia đình thuộc hộ cận nghèo nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Số Heroine thu giữ là mặt hàng Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy; 01 (một) điện thoại di động liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo nên cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước; đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead màu vàng biển kiểm soát 11B1-276.xx là phương tiện phạm tội. Trong quá trình giải quyết vụ án, xác định được là tài sản chung của bị cáo Tiêu Văn Th và vợ là Lương La Thị T, chị T không biết bị cáo Th sử dụng xe mô tô trên làm phương tiện phạm tội nên cần tịch thu ½ giá trị chiếc xe mô tô và trả lại ½ giá trị chiếc xe mô tô trên cho chị T; đối với số tiền bị cáo mua bán ma túy trái phép mà Cơ quan điều tra chứng minh được, bị cáo Th đã bán ma túy 05 (năm) lần cho 03 (ba) người nghiện thu được số tiền 470.000 đồng (bốn trăm bảy mươi nghìn đồng) cần truy thu nộp ngân sách Nhà nước.

Về án phí: Bị cáo Tiêu Văn Th phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tiêu Văn Th phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Tiêu Văn Th 07 (bảy) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 09/6/2022;

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Th.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì thư niêm phong, mặt trước phong bì ghi “vật chứng vụ: Tiêu Văn Th - Mua bán trái phép chất ma túy, xảy ra tại xóm B, xã Đình Phong, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng ngày 09/6/2022”, mặt sau phong bì có chữ ký của Tiêu Văn Th, thành phần tham gia và đóng 04 (bốn) hình con dấu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng; 01 (một) phong bì thư đã được niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “133/KL-KTHS hoàn trả mẫu sau giám định vụ Tiêu Văn Th, Mua bán trái phép chất ma túy”, mặt sau có chữ ký của Hoàng Đức H và Nông Thị Minh Ng, đóng 04 (bốn) hình dấu mực đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Cao Bằng;

- Tịch thu vào Ngân sách Nhà nước: 01 (một) phong bì thư niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “Điện thoại di động tạm giữ đối với Tiêu Văn Th, ngày 09/6/2022”, mặt sau phong bì có chữ ký của Tiêu Văn Th, thành phần tham gia và đóng 04 (bốn) hình con dấu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng; ½ giá trị chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead màu vàng biển kiểm soát 11B1-276.xx;

- Trả lại cho chị Lương La Thị T, sinh năm 1993( trú tại: xóm L, xã Ngọc Khê, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng) ½ giá trị chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead màu vàng biển kiểm soát 11B1-276.xx;

Xác nhận số vật chứng trên đã chuyển sang cơ quan Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Trùng Khánh tại biên bản giao, nhận vật chứng ngày 02/11/2022.

- Truy thu số tiền 470.000 đồng (bốn trăm bảy mươi nghìn đồng) đối với bị cáo Th do thu lợi bất chính từ hành vi mua bán ma túy có được sung vào Ngân sách Nhà nước.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Th phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Bị cáo Tiêu Văn Th, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Lương La Thị T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ