vanban.org

Bản án 123/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị O và anh Phạm Văn Gi.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc chị Nguyễn Thị O phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí nhưng được trừ và… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị O- Phạm Văn Gi"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị O và anh Phạm Văn Gi.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HẢI HẬU
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 123/2022/HNGĐ-ST
Ngày 23-6- 2022
V/v: “Ly hôn giữa
chị O và anh Gi”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Hòe.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hóa;

Bà Trần Thị Phượng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Thắm - Thư ký Toà án nhân dân

huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thành Long - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 06 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 91/2022/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 5 năm 2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 6 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị O, sinh năm 1977. Địa chỉ: Xóm 4, xã HA, huyện HH, tỉnh Nam Định.

- Bị đơn: Anh Phạm Văn Gi, sinh năm 1977. Địa chỉ: Xóm 4, xã HA, huyện HH, tỉnh Nam Định.

(Chị O, anh Gi đều vắng mặt có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 11-02-2022 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị O trình bày:

Chị Nguyễn Thị O và anh Phạm Văn Gi đăng ký kết hôn ngày 12 tháng 12 năm1997 tại Ủy ban nhân dân xã Hải Toàn (nay là xã Hải An), huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống cùng mẹ đẻ anh Gi tại xóm 4, xã HA, huyện HH, tỉnh Nam Định. Quá trình chung sống, mặc dù đã có 02 con chung nhưng vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình, quan điểm sống không hợp; anh Gi thường xuyên uống rượu dẫn đến không làm chủ được bản thân, xúc phạm vợ con. Anh Gi, chị O đã ly thân, chấm dứt mọi quan hệ tình cảm, trách nhiệm với nhau từ năm 2018 đến nay. Nay chị O nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên xin được ly hôn với anh Gi.

Về con chung: Chị O, anh Gi có 02 con chung là Phạm Thị Huyền Trang, sinh ngày 20/12/1998 và Phạm Văn Chương, sinh ngày 07/10/2001. Hiện cả hai con chung đều đã thành niên, lao động tự lập nên chị O không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản: Chị O và anh Gi đã xây nhà, công trình xây dựng trên đất được bố mẹ đẻ anh Gi tặng cho nhưng chưa làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất. Vợ chồng không phải thực hiện nghĩa vụ chung về tài sản. Nay ly hôn, chị O không yêu cầu giải quyết về tài sản chung xác nhận vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 25-05-2022, bị đơn anh Phạm Văn Gi có lời khai phù hợp với lời khai của chị O về thời gian kết hôn, quá trình chung sống, thời gian sống ly thân. Về nguyên nhân mâu thuẫn, theo anh Gi là do tính tình không hợp, bản thân anh Gi trước đây do có sử dụng rượu nên đôi khi không làm chủ bản thân, gây ra mâu thuẫn vợ chồng. Anh Gi và chị O ly thân kể từ năm 2018 cho đến nay. Trong thời gian ly thân, anh Gi đã cố gắng tìm mọi biện pháp đoàn tụ với chị O nhưng chị O không nhất trí. Nay chị O làm đơn xin ly hôn, anh Gi xin được đoàn tụ để lo xây dựng gia đình cho con thứ hai của vợ chồng.

Về con chung: Anh Gi xác nhận vợ chồng có 02 con chung như chị O trình bày. Khi ly hôn, do các con đã trưởng thành nên anh Gi không đề nghị giải quyết.

Về tài sản: Anh Gi xác nhận lời khai của chị O. Do anh Gi không nhất trí ly hôn nên không yêu cầu Toà án giải quyết về tài sản.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 21, Điều 262 Bộ luật Tố tụng dân sự, thông qua việc kiểm sát tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội Đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Tòa án áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị O và anh Phạm Văn Gi. Về con chung và tài sản: Do các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị O và anh Phạm Văn Gi đều có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị O, anh Gi theo quy định tại khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị O và anh Phạm Văn Gi là quan hệ hôn nhân hợp pháp vì được xây dựng trên cơ sở tự nguyện và được Ủy ban nhân dân xã Hải Toàn (nay là xã Hải An), huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định đăng ký kết hôn ngày 12/12/1997.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị O đối với anh Gi thì thấy: Trong suốt quá trình chung sống, do tính tình, quan điểm sống không hợp; nhiều thời điểm anh Gi sử dụng rượu không làm chủ được bản thân nên vợ chồng thường xuyên xô sát. Chị O, anh Gi đều xác nhận đã ly thân, chấm dứt mọi quan hệ tình cảm, trách nhiệm với nhau từ năm 2018 đến nay. Trong thời gian ly thân, mặc dù đã được gia đình đôi bên hòa giải, bản thân chị O và anh Gi đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn không giải quyết được mâu thuẫn vợ chồng. Do mâu thuẫn kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn nên chị O giữ yêu cầu xin ly hôn. Mặc dù bị đơn anh Gi không đồng ý ly hôn nhưng lý do không đồng ý không xuất phát từ tình cảm vợ chồng mà mục đích duy trì hôn nhân là để xây dựng gia đình cho các con. Từ những phân tích ở trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị O và anh Gi là có thật, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài nên cần chấp nhận yêu cầu của chị O, cho chị O được ly hôn với anh Gi là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị O, anh Gi đều xác nhận có 02 con chung là cháu Phạm Thị Huyền Trang, sinh ngày 20/12/1998 và cháu Phạm Văn Chương, sinh ngày 07/10/2001. Hiện cháu Trang đã xây dựng gia đình ở riêng, cháu Chương đã thành niên, lao động tự lập được; chị O, anh Gi đều không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Về tài sản: Chị O, anh Gi đều không yêu cầu xác định, phân chia nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị O phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị O và anh Phạm Văn Gi.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc chị Nguyễn Thị O phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tại biên lai số 0006180 ngày 18-05-2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hải Hậu; chị Nguyễn Thị O đã nộp đủ tiền án phí.

3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ