- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn N - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 123/2021/HS-ST Ngày: 15/12/2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Lê Thị Thu Hiền
Hội thẩm nhân dân: ông Lưu Xuân Giới
ông Nguyễn Văn Bẩy
- Thư ký phiên tòa: bà Ngô Thị Duyên - Cán bộ Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: bà Phạm Thị Thu Hường - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 12 năm 2021, Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 127/2021/HSST ngày 10/11/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 134/QĐXXST-HS ngày 01/12/2021 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn N, tên gọi khác: không; sinh ngày: 13/9/1989, tại thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: khu 2, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và con bà Trần Thị T; vợ là Hoàng Thị T và có 01 con sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 29/3/2006, bị Công an huyện Yên Hưng (nay là thị xã Quảng Yên), tỉnh Quảng Ninh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính và bị Ủy ban nhân dân xã Minh Thành áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường trong thời hạn 06 tháng (từ ngày 05/4/2006 đến 05/10/2006) về hành vi cố ý gây thương tích. Đã chấp hành xong; Bị cáo bị bắt quả tang ngày 31/8/2021, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh Nguyễn Ngọc T, sinh năm: 1986; trú tại: khu 2, phường Đ, thị xã Đông T, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
* Người chứng kiến:
- Ông Nguyễn Đức C; sinh năm: 1960; địa chỉ: khu Vĩnh Quang 1, phường M, thị xã Đông T, tỉnh Quảng Ninh.
- Chị Trần Thị H; sinh năm: 1970; địa chỉ: khu Tràng Bạch 1, phường H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh.
Đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 31/8/2021, qua công tác tuần tra tại đoạn đường tránh thuộc khu Vĩnh Quang 1, phường Mạo Khê, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, Công an thị xã Đông Triều, phát hiện Nguyễn Văn N đang điều khiển xe mô tô có biểu hiện nghi vấn, nên đã ra tín hiệu dừng xe. Thấy vậy, N đỗ và dựng xe mô tô rồi bỏ chạy sang bên kia đường (phía đối diện với nơi dựng xe mô tô), đồng thời lấy từ trong túi quần bên trái đang mặc ném xuống dưới nền đất ven đường cách vị trí Ninh bị bắt giữ 3,7m 01 (một) túi nilon kích thước (02x2,5)cm bên trong chứa chất tinh thể màu trắng, bên ngoài được gói bằng giấy vệ sinh quấn băng dính đen, thì bị phát hiện bắt và thu giữ vật chứng. Ngoài ra, còn thu giữ của N 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh, gắn 02 (hai) sim số 0879.412.668 và 0904.086.168; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu đen, gắn 02 (hai) sim số 0394.540.318 và 0398.037.310 và 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 14X1-196.71.
Tại Bản kết luận giám định số 1684/KLGĐ, ngày 06/9/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, kết luận: Chất tinh thể màu trắng chứa trong 01(một) túi nilon thu giữ của Nguyễn Văn N là ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng 0,122g (không phẩy một hai hai gam).
Quá trình điều tra, Ninh khai về nguồn gốc ma túy như sau: khoảng 09 giờ 30 phút ngày 31/8/2021, do có nhu cầu sử dụng ma túy, N gọi điện thoại di động cho Phạm Văn K, sinh năm 1991, trú tại khu 2, phường Đông Triều, thị xã Đông Triều để hỏi mua ma túy về sử dụng. Tuy nhiên, do không liên lạc được, nên N điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 14X1-196.71 (là xe N mượn của anh Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1986, trú tại khu 2, phường Đông Triều, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh) đi từ nhà đến phòng trọ củaK ở khu Kim Thành, phường Kim Sơn, thị xã Đông Triều. Tại đây, N gặp và thỏa thuận hỏi mua nợ 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) ma túy thì K đồng ý và lấy đưa cho N 01 (một) túi nilon chứa chất ma túy, bên ngoài được gói bằng giấy vệ sinh và quấn băng dính đen. Sau đó, N cất giấu vào túi quần trái đang mặc rồi điều khiển xe môtô đi tìm chỗ sử dụng, thì bị phát hiện bắt, thu giữ vật chứng.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ ma túy của mình như đã nêu trên.
Người chứng kiến ông Nguyễn Đức C và chị Trần Thị H đều có lời khai trong hồ sơ phù hợp với lời khai của bị cáo thể hiện được cơ quan công an mời chứng kiến việc kiểm tra và thu giữ ma túy của Nguyễn Văn N vào ngày 31/8/2021, tại khu Vĩnh Quang 1, phường Mạo Khê, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.
Người có quyền, lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Ngọc T trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đều khai xe máy nhãn hiệu Honda Wave biển số 14X1-196.71 là tài sản hợp pháp của anh. Anh không biết Nguyễn Văn N mượn để đi mua ma túy về sử dụng. Đến nay, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh chiếc xe này nên anh không có ý kiến gì.
Bản Cáo trạng số 130/CT-VKS- ĐT ngày 09/11/2021, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Văn N từ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù kể từ ngày bị bắt 31/8/2021.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy toàn bộ ma túy còn lại sau giám định; tịch thu, sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia; trả lại bị cáo Nguyễn Văn N 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Nói lời sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn N đều khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến; Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 31/8/2021; Kết luận giám định số 1684/KLGĐ ngày 06/9/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 31/8/2021, tại đoạn đường tránh thuộc khu Vĩnh Quang 1, phường Mạo Khê, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Văn N có hành vi tàng trữ trái phép 0,122 gam (không phẩy một hai hai gam), chất ma túy, loại Methamphetamine, nhằm mục đích sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Methamphetamine nằm trong Danh mục IIC, STT: 323 Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/05/2018 của Chính phủ Ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất.
Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, như Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
…
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự công cộng và chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất gây nghiện. Ma túy là loại độc dược không những hủy hoại sức khỏe của người sử dụng, mà còn gây tác hại nhiều mặt trong đời sống xã hội và là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm. Bị cáo là người đã trưởng thành, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên cố tình thực hiện. Do đó, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: bị báo không có tình tiết tăng nặng.
Tình tiết giảm nhẹ: bị cáo khai báo thành khẩn nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ qui định tại s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về xử lý vật chứng:
Vật chứng là ma túy hoàn lại sau giám định cần tịch thu, tiêu hủy; điện thoại Nokia bị cáo dùng để liên lạc mua ma túy cần tịch thu, sung vào Ngân sách Nhà nước; điện thoại OPPO không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 14X1-196.71 bị cáo mượn của anh Nguyễn Ngọc T để đi mua ma túy, nhưng anh Thành không biết. Cơ quan điều tra đã trả lại xe máy cho anh T và anh T không có ý kiến gì, nên không đề cập giải quyết.
Về hình phạt bổ sung: bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với Phạm Văn K là người mà Ninh khai đã bán ma túy cho N nhiều lần, quá trình điều tra xác minh hiện K vắng mặt tại địa phương, gia đình và chính quyền địa phương không biết K đi đâu, làm gì và bao giờ về. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Đông Triều tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Nguyễn Văn N 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 31/8/2021.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong đựng mẫu hoàn lại sau giám định số 1684/KLGĐ ngày 06/9/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, được niêm phong bằng các dấu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh và các chữ ký ghi tên: Vũ Việt Phương, Dương Doãn Tùng; 02 (hai) sim điện thoại: sim số 0394540318 và sim số 0398037310.
Tịch thu, sung ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen.
Trả lại bị cáo Nguyễn Văn N 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh, gắn sim số 0879412668 và sim số 0904086168, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
(Toàn bộ vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 21 ngày 10 tháng 11 năm 2021 giữa Công an thị xã Đông Triều và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đông Triều).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Văn N phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Án xử sơ thẩm công khai, có mặt bị cáo, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Báo để bị cáo, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan biết quyền kháng cáo trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Bị cáo;
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan;
- VKSND, CA tx. Đông Triều;
- Chi cục THADS tx. Đông Triều;
- Nhà tạm giữ CA tx. Đông Triều;
- TAND, VKSND tỉnh Quảng Ninh;
- Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh.
Lê Thị Thu Hiền
- Lưu hồ sơ, VP.
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Lƣu Xuân Giới Nguyễn Văn Bẩy
Lê Thị Thu Hiền
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND, CA tx. Đông Triều; - Chi cục THADS tx. Đông Triều; - Nhà tạm giữ CA tx. Đông Triều; - TAND, VKSND tỉnh Quảng Ninh; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh. - Lưu hồ sơ, VP. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thu Hiền |