vanban.org

Bản án 123/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu Tuyên án 30/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuy n bố bị cáo: Thị Đ phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Thị Đ 07(bảy) năm 06(sáu) tháng tù. ngày tạm giữ vào th i hạn chấp hành hình phạt t ). Bị cáo c n phải chấp hành07(b y) năm 05(năm) tháng 21 (hai m t) ngày tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Thị Đơi - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuy n bố bị cáo: Thị Đ phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TU
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 123/2021/HS-ST
Ngày 30/9/2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TU, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Giang Thị Vượng

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trung i n; Bà V Thị Hoa

- Thư ký phiên toà: Ông

Văn m - Thư ký Toà án nhân dân huyện TU, tỉnh ai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TU tham gia phiên toà: Ông Hoàng Văn Trưởng - iểm sát vi n.

Ngày 30/9/2021 tại trụ sở T a án nhân dân huyện TU, tỉnh ai Châu xét xử s thẩm công khai vụ án hình sự s thẩm thụ lý số: 125/2021/TLST-HS, ngày 15/9/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 126/2021/QĐXX T-HS ngày 16/9/2021 đối với bị cáo:

Lò Th Đ (t n gọi khác: hông) - Sinh ngày 01/01/1985

N i sinh: huyện TU tỉnh ai Châu

N i cư trú: Bản S x K H huyện TU, tỉnh ai Châu; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: hông biết ch ; Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Bố đẻ: Văn Hại, sinh năm 1921(đ chết); Mẹ đẻ: Thị , sinh năm 1940; Chồng: Đ o Văn Xuân, sinh năm 1984; Bị cáo có 04 con; con lớn sinh năm 2000; nhỏ sinh năm 2014;Tiền án, Tiền sự: hông;

Bị cáo bị bắt tạm gi t hồi 12 giờ ngày 25/5/2021,đến ngày 03/6/2021 được áp dụng biện pháp ngăn ch n cấm đi khỏi n i cư trú (Có m t)

Người phi n dịch: Văn T, sinh năm 1985- Trú tại: Bản Co hày x MC huyện TU, tỉnh ai Châu(Có m t)

Ngƣời làm chứng:

1. Văn , sinh năm 1990; N i cư trú: Bản Mở, x K H huyện TU, tỉnh Lai Châu(Vắng m t)

2. ường Văn T, sinh năm 1985; N i cư trú: Bản Mở, x K H huyện TU, tỉnh ai Châu(Vắng m t)

3. ường Văn sinh năm 1979; N i cư trú: Bản Mở, x K H huyện TU, tỉnh ai Châu(Vắng m t)

4. Văn Đ sinh năm 1989- N i cư trú: Bản Mở, x K H huyện TU, tỉnh Lai Châu(Vắng m t)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ s vụ án và diễn biến tại phi n t a, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 09 giờ 30 phút ngày 25/5/2021, tại bản On, x K H, huyện TU, Công an xã K H bắt quả tang Văn , sinh năm 1990, trú tại bản Mở, x K H, huyện TU về hành vi tàng tr trái phép chất ma túy, thu gi 01 gói Heroine có khối lượng 0,03 gam. Về nguồn gốc Heroine, hôn khai nhận cùng ường Văn Tư ng, sinh năm 1985, trú tại bản Mở, x K H, huyện TU, mua của Thị Đ, sinh năm 1985, trú tại bản àng, x K H, huyện TU với giá 50.000 đồng.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đ thu thập, C quan điều tra Công an huyện TU ra lệnh gi người trong trường hợp khẩn cấp, khám xét khẩn cấp đối với Thị Đ. Quá trình gi người và khám xét thu gi của Đ số tiền 1.360.000 đồng (trong đó có 100.000 đồng là tiền Đ bán Heroine cho hôn, Tư ng mà có).

Qúa trình điều tra Thị Đ khai nhận: hoảng 17 giờ ngày 24/5/2021, Đ đi cùng chồng là anh Đ o Văn Xuân l n bản Đốc, x K H, huyện TU để bắt cá suối. Tại đây, Đ g p và mua của một người đàn ông dân tộc Thái, Thị Đ không rõ nhân thân, lai lịch 01 gói Heroine với giá 100.000 đồng. Mua được Heroine, Đ mang về nhà và cất giấu ở dưới gầm bàn uống nước, không cho ai biết. Quá trình mua bán, tàng tr Heroine, Đ không cho anh Xuân (chồng Đ biết).

Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, Đ đang ở nhà thì có ường Văn ầng, sinh năm 1979, trú tại bản àng, x K H, huyện TU đến hỏi mua Heroine để sử dụng. Đ đ cấu lấy một ít Heroine bán cho ầng lấy 20.000 đồng. au đó, Đ chia số Heroine c n lại thành 02 gói nhỏ cất giấu dưới gầm bàn uống nước. Đến khoảng 08 giờ 30 phút ngày 25/5/2021, có Văn hôn cùng ường Văn Tư ng đến nhà Đ. Tư ng đưa cho Đ 50.000 đồng hỏi mua Heroine, Đ nhận tiền và bán cho Tư ng 01 gói Heroine. Cùng lúc đó, hôn đưa cho Đ số tiền 50.000 đồng để mua Heroine, Đ cầm tiền và lấy 01 gói Heroine bán cho hôn. Mua được Heroine, Tư ng mang ra sử dụng tại nhà Đ, c n hôn mang xuống nhà vệ sinh dưới gầm sàn cấu lấy một ít Heroine để sử dụng. ố Heroine c n lại, hôn cất giấu trong túi quần b n trái và cùng Tư ng đi về thì bị Công an x K H bắt quả tang, thu gi 0,03 gam Heroine.

Quá trình điều tra, C quan điều tra đ triệu tập lấy lời khai: Văn hôn, ường Văn Tư ng, ường Văn ầng. ết quả lời khai của nh ng người làm chứng n u tr n phù hợp với lời khai của Thị Đ và các tài liệu chứng cứ đ thu thập.

Về vật chứng của vụ án:Ngày 25/5/2021, C quan điều tra đ tiến hành mở ni m phong, xác định khối lượng, lấy mẫu vật gửi giám định đối với chất bột, màu trắng thu gi của Văn hôn.

Tại bản ết luận giám định tư pháp số 78 ngày 25/5/2021 của người giám định theo vụ việc kết luận: ố chất bột, màu trắng thu gi của Văn hôn có khối lượng 0,03 gam

Tại bản ết luận giám định số 373 ngày 28/5/2021 của h ng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh ai Châu kết luận: Mẫu chất bột, màu trắng thu gi của Văn hôn là ma túy, loại: Heroine

Vật chứng c n lại của vụ án gồm: ố tiền 1.360.000 đồng (đã giám định đều là tiền thật); 01 mảnh nilon màu hồng; 01 vỏ bì ni m phong ban đầu, hiện số vật chứng tr n đang được lưu gi tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện TU.

Tại bản cáo trạng số: 106/CT -VKS ngày 14/9/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TU đ truy tố bị cáo Thị Đ về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Tại phi n t a, đại diện Viện kiểm sát huyện TU trình bày lời luận tội gi nguy n quan điểm truy tố theo cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuy n bố bị cáo Thị Đ phạm tôi: “Mua bán trái phép chất ma túy”

Về hình phạt: Căn cứ điểm b,c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Thị Đ t 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù, khấu tr 09 ngày tạm gi cho bị cáo. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính t ngày bị cáo vào trại thụ hình, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Về vật chứng đề nghị: Tịch thu ti u hủy: 01 bì ni m phong b n trong chứa đựng 01 mảnh nilon màu hồng; 01 bì ni m phong ban đầu là vật không có giá trị nên cần tịch thu ti u hủy; Đề nghị tịch thu và truy thu sung quỹ Nhà nước 120.000 đồng trong tổng số thu gi 1.360.000 đồng của bị cáo, trả lại cho bị cáo 1.240.000 đồng

Về án phí buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự s thẩm.

Bị cáo không bổ sung ý kiến gì th m, nhất trí và không tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TU tỉnh ai Châu.

ời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên c sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ s vụ án đ được tranh tụng tại phi n t a, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của C quan cảnh sát điều tra Công an huyện TU, Điều tra vi n, Viện kiểm sát nhân dân huyện TU, iểm sát vi n trong quá trình điều tra, truy tố, đ thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tranh tụng tại phi n t a bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của C quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của C quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đ thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phi n t a ngày hôm nay bị cáo

Thị Đ đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đ truy tố. Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phi n t a hoàn toàn phù hợp lời khai của chính bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố, Hội đồng xét xử đủ c sở kết luận: Chiều ngày 24/5/2021, tại bản Đốc, x K H, huyện TU, tỉnh ai Châu, Thị Đ đ mua trái phép 01 gói Heroine của một người không rõ lai lịch với giá 100.000 đồng, mục đích để bán kiếm lời. Mua được Heroine, Đ chia thành 03 gói nhỏ. Trong các ngày 24, 25/5/2021, tại bản àng, x K H, huyện TU, tỉnh ai Châu, Lò Thị Đ đ 02 lần thực hiện hành vi bán trái phép 03 gói Heroine cho ường Văn ầng, Văn hôn, ường Văn Tư ng lấy tổng số tiền 120.000 đồng. Trong đó ngày 25/5/2021, Đ đ cùng lúc bán trái phép 02 gói Heroine cho 02 người là Lò Văn hôn, ường Văn Tư ng. Quá trình gi người trong trường hợp khẩn cấp và khám xét khẩn cấp n i ở đối với Thị Đ, C quan điều tra thu gi số tiền 1.360.000 đồng, trong đó có 100.000 đồng là tiền bán trái phép Heroine mà có. Hành vi 02 lần bán trái phép 03 gói Heroine, trong đó có một lần cùng một lúc bán trái phép 02 gói Heroine cho 02 người là Văn hôn, ường Văn Tư ng của Thị Đ đ đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy theo các tình tiết định khung điểm b, c khoản 2 Điều 251- Bộ luật hình sự.

Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện TU, tỉnh Lai Châu truy tố đối với bị cáo theo điểm khoản, tội danh là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Tại phi n t a ường Văn ầng vắng m t tuy nhi n trong giai đoạn điều tra ường Văn ầng c n khai Cách ngày 25/5/2021 khoảng 01 tuần có được Văn Đảng, sinh năm 1979, trú tại: bản àng, x K H, huyện TU cho 50.000 đồng để đi mua Heroine về cùng nhau sử dụng. au đó, ầng mua của Đ 01 gói Heroine với giá 50.000 đồng mang về cùng Đảng sử dụng hết. Trong quá trình điều tra và tại phi n t a Lò Thị Đ không th a nhận, ngoài lời khai của ầng, không có tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh. Do vậy chưa đủ căn cứ để kết luận đối với hành vi này của Thị Đ.

Đánh giá tính chất, mức độ phạm tội: Tội phạm mà bị cáo thực hiện là rất nghiêm trong gây nguy hiểm cho x hội, đ xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước ta đối với các chất ma túy và làm ảnh hưởng tới trật tự, trị an, an toàn x hội. Ma túy hiện nay trở thành vấn nạn nhức nhối cho toàn x hội và bản thân sử dụng sẽ bị hủy hoại về sức khỏe, tinh thần rối loạn, giảm khả năng lao động, nhân cách bị tha hóa, là nguy n nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm khác.

4] Xét về nhân thân tình tiết tăng n ng giảm nhẹ:

Thị Đ sinh ra trong gia đình có 12 anh chị em, bị cáo là con thứ 9, trưởng thành xây dựng gia đình với anh Đ o Thị Xuân và có 04 con chung chỉ vì điều kiện kinh tế khó khăn vì mục đích tư lời có được t việc bán trái phép Heroine để có tiền trang trải cuộc sống hàng ngày bị cáo đ bất chấp pháp luật thực hiện hành vi phạm tội, bán trái phép nhiều lần n n đ phạm vào tội rất nghi m trọng. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phi n t a bị cáo đ thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện khó khăn đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo khi quyết định hình phạt theo điểm s khoản 1, 2 điều 51- Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Xét điều kiện kinh tế của bị cáo khó khăn n n

Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 251 B H .

Về biện pháp ngăn ch n: Tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn ch n cấm đi khỏi n i cư trú đối với bị cáo

Về vật chứng của vụ án là: 01 bì ni m phong b n trong chứa đựng 01 01 mảnh nilon màu hồng;01 vỏ bì ni m phong ban đầu là vật không có giá trị n n cần tịch thu ti u hủy;

Số tiền 1.360.000 đồng thu gi của bị cáo trong đó có 100.000 là tiền bán trái phép Heroine mà có n n cần tịch thu sung quỹ Nhà nước, truy thu 20.000 đồng tiền bán trái phép 01 lần Heroine cho ường Văn ầng, c n lại 1.240.000 đồng là tiền hợp pháp cần trả lại cho bị cáo. Hiện vật chứng đang được lưu giữ tại Kho vật chứng Chi cục huyện TU.

Các vấn đề khác: Về nguồn gốc Heroine, bị cáo khai mua của một người không rõ lai lịch. Do vậy, C quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý.

Qúa trình điều tra Văn hôn, ường Văn Tư ng khai nhận sau khi mua Heroine của Thị Đ vào ngày 25/5/2021, hôn, Tư ng đ sử dụng tại nhà Đ. Tại c quan điều tra và tại phi n t a Thị Đ khai không biết việc hôn, Tư ng sử dụng ma túy tại nhà Đ. Do vậy, C quan điều tra không đề cập xử lý đối với

Thị Đ hành vi “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” là có căn cứ. Tại c quan điều tra Thị Đ c n khai nhận: au khi mua được Heroine ngày 24/5/2021, Thị Đ đ cấu một ít Heroine cho chồng là Đ o Văn Xuân sử dụng. Quá trình lấy lời khai, đối chất anh Xuân không th a nhận việc Đ cho Heroine. Do vậy không có căn cứ để xử lý đối với hành vi này của Thị Đ.

Đối với: Văn hôn, ường Văn Tư ng, ường Văn ầng, Văn Đảng đ có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Quá trình điều tra xác định Khôn, Tư ng, ầng, Đảng đều chưa có tiền án, tiền sự, Công an huyện TU đ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định. [8] Về án phí hình sự s thẩm: Bị cáo phải chịu án phí HSST.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ tr n,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Tuy n bố bị cáo: Thị Đ phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”

1.Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Thị Đ 07(bảy) năm 06(sáu) tháng tù.

(Khấu tr

ngày tạm giữ vào th i hạn chấp hành hình phạt t ). Bị cáo c n phải chấp hành07(b y) năm 05(năm) tháng 21 (hai m t) ngày tù.

Thời hạn thi hành hình phạt tù tính t ngày bị cáo vào trại thụ hình.

2.Về vật chứng: Áp dụng vào Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 - Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuy n tịch thu tiêu hủy 01 mảnh nilon màu hồng; 01 vỏ bì ni m phong ban đầu.

Tuy n tịch thu 100.000 đồng và truy thu 20.000 đồng trong tổng số thu gi 1.360.000 đồng của bị cáo để sung quỹ Nhà nước; Tuy n trả lại cho bị cáo1.240.000 đồng.

3.Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và khoản 1 điều 21, điểm a khoản 1 điều 23 nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự s thẩm.

4.Về quyền kháng cáo: Căn cứ điều 331, 333 – Bộ luật tố tụng hình sự

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể t ngày tuy n án lên Tòa án nhân dân cấp tr n./

Cỡ chữ