vanban.org

Bản án 123/2021/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 08/12/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 08/12/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Dương Văn T, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số

120/2021/HSST, ngày 08/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên về mức hình phạt tù đối với bị cáo như sau: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Văn T phạm tội đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Dương Văn T, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 123/2021/HS-PT

Ngày: 08/12/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vương Hồng Giang; Các Thẩm phán: Ông Đặng Minh Tuân và ông Trần Khánh Hồng. - Thư ký phiên tòa: Bà Diệp Thu Trang, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Huyền, Kiểm sát viên. Ngày 08 tháng 12 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 113/2021/TLPT-HS, ngày 11/10/2021 đối với bị cáo Dương Văn T, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 120/2021/HSST, ngày 08/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên. Bị cáo có kháng cáo: DƯƠNG VĂN T, tên gọi khác: Không; sinh năm 1977, tại Thái Nguyên; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Xóm ĐT, xã ĐT, huyện PB, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn R (đã chết) và bà Trần Thị M; có vợ là Dương Thị H và 02 con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/5/2021 đến ngày 21/5/2021, được tại ngoại cho đến nay, (có mặt). Trong vụ án này có các bị cáo: Dương Văn C, Nguyễn Văn T1, Dương Văn N và Dương Văn H1, Dương Văn T2, Dương Văn T3, Phạm Văn D và Dương Văn V không kháng cáo và không bị kháng nghị, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 17/5/2021, Công an huyện Phú Bình phối hợp với Công an xã ĐT phát hiện tại nhà bà Tạ Thị T4, sinh năm 1960, trú tại xóm ĐT, xã ĐT, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên có một số đối tượng đang đánh bạc bằng hình thức đánh xóc đĩa, phát hiện tại nhà ngang của bà T4 các đối tượng đang đánh bạc gồm: Dương Văn N, sinh năm 1978; Dương Văn T2, sinh năm 1976, cùng trú tại xóm X, xã NL, huyện Phú Bình; Phạm Văn D, sinh năm 1982; Dương Văn T3, sinh năm 1964; Nguyễn Văn T4, sinh năm 1976; Dương Văn T, sinh năm 1977; Dương Văn H1, sinh năm 1988; Dương Văn C, sinh năm 1981 và Dương Văn V, sinh 1987 cùng trú tại xóm ĐT, xã ĐT, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên. Vật chứng thu giữ gồm: Số tiền tạm giữ trên chiếu bạc 5.050.000 đồng; 04 quân vị bằng tre một mặt được bôi đen; 01 chiếc bát sứ; 01 đĩa sứ; 01 chiếc chiếu nhựa, thu giữ trên người của T3 1.300.000 đồng; T1 450.000 đồng; H1 700.000 đồng; T1 850.000 đồng; C 10.000 đồng; V 1.500.000 đồng cùng 07 điện thoại di động và 07 xe mô tô các loại. Tại Cơ quan điều tra, các đối tượng đã khai nhận hành vi phạm tội như sau: Vào trưa ngày 17/5/2021, C thuê thợ xây đổ bê tông mái nhà cho C ở xóm ĐT, xã ĐT. Sau khi ăn cơm trưa xong,T rủ mọi người “anh em mình chơi vui tí rồi về”, C đi xuống nhà ngang trải chiếu cho mọi người đánh bạc, rồi quay lên nhà ngồi uống nước tiếp khách.T là người chuẩn bị quân vị và lấy bát đĩa của nhà bà T4 làm dụng cụ đánh bạc. Về cách thức đánh bạc được những đánh bạc quy định như sau: Người xóc cái cho bốn quân vị đặt vào đĩa rồi úp bát lên, dùng hai tay giữ bát và đĩa xóc các quân vị ở bên trong, lắc xong đặt đĩa xuống chiếu. Lúc này những người tham gia đánh bạc bắt đầu đặt tiền xuống chiếu trước mặt để đặt cửa, số tiền đặt tùy ý, không quy định mức tối đa. Quy định bên tay trái của người xóc cái tính là cửa lẻ, bên tay phải tính là cửa chẵn. Khi mở bát quân vị trên đĩa thể hiện là lẻ khi bốn quân vị có 1 quân mặt đen, ba quân mặt trắng hoặc 1 quân mặt trắng 3 quân mặt đen. Thể hiện là chẵn khi bốn quân vị có hai quân mặt trắng, hai quân mặt đen hoặc bốn quân mặt trắng hoặc bốn quân mặt đen. Sau khi những người tham gia đánh bạc đặt tiền xong. Người xóc cái mở bát, nếu quân vị thể hiện là lẻ, thì những người đặt tiền vào bên lẻ thắng và được nhận thêm số tiền thắng bằng số tiền mà người đó đã đặt cược, những người đặt bên chẵn sẽ bị thua và mất số tiền đặt cược. Ngược lại, nếu quân vị thể hiện là chẵn thì những người đặt tiền bên chẵn thắng và được tiền, người đặt tiền bên lẻ thua và bị mất tiền. Lúc đầu T, T1 và N tham gia đánh bạc dưới hình thức đánh xóc đĩa sát phạt nhau bằng tiền, sau đó V, C, T3, D và H1 lần lượt tham gia đánh bạc cùng. Khi đánh bạc,T là người xóc cái, quá trình tham gia đánh bạc, D hết tiền vay của Dương Văn T3 500.000 đồng, T1 vay 500.000 đồng, T3 vay 1.000.000 đồng để đánh bạc. Các đối tượng đang đánh bạc thì bị Công an huyện Phú Bình phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng. Xác định số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc như sau: Thu giữ trên chiếu bạc 5.050.000 đồng, thu giữ của T1 450.000 đồng; H1 700.000 đồng; T3 850.000

đồng; C 10.000 đồng; V 1.500.000 đồng đều sử dụng vào mục đích đánh bạc. Tổng số tiền xác định các bị cáo sử dụng đánh bạc ngày 17/5/2021 là 8.560.000 đồng. Bản án hình sự sơ thẩm số 120/2021/HSST, ngày 08/9/2021 của Tòa án nhân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên đã xét xử các bị cáo Dương Văn T, Dương Văn C, Nguyễn Văn T4, Dương Văn N, Dương Văn H1, Dương Văn T3, Dương Văn T2, Phạm Văn D và Dương Văn V phạm tội “Đánh bạc”. - Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Dương Văn T 12 tháng tù. - Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s, x khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Dương Văn N 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng. - Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt các bị cáo Dương Văn V, Phạm Văn D và Dương Văn T3, mỗi bị cáo 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng. - Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt các bị cáo Dương Văn C, Nguyễn Văn T4, Dương Văn H1 và Dương Văn T2, mỗi bị cáo 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng. Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo bản án theo quy định. Ngày 15/9/2021, bị cáo Dương Văn T kháng cáo xin giảm nhẹ mức hình phạt tù và hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo. Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án: Trong vụ án này, bị cáo tham gia với vai trò đồng phạm giản đơn, các bị cáo không có sự bàn bạc, tổ chức phân công nhiệm vụ, bột phát rủ nhau đánh bạc. Quá trình điều tra và tại các phiên toà, bị cáo đều thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, tỏ rõ sự ăn năn hối cải. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo có đơn xin cải tạo tại địa phương và được chính quyền địa phương xác nhận, ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn chấp hành tốt chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định. Xét thấy, bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Do vậy, bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa Bản án hình sự sơ thẩm theo hướng giữ nguyên mức hình phạt tù và cho hưởng án treo.

Bị cáo không tranh luận với kết luận của Viện kiểm sát. Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm cho bị cáo xin giảm nhẹ mức hình phạt tù và cho hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau: [1] Đơn kháng cáo của bị cáo Dương Văn T gửi trong thời hạn và đúng theo thủ tục quy định, nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm. [2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo khác và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Vào hồi 13 giờ 30 phút ngày 17/5/2021, tại nhà bà Tạ Thị T4, trú tại xóm ĐT, xã ĐT, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, bị cáo Dương Văn T đã có hành vi đánh bạc cùng với các bị cáo Dương Văn C, Nguyễn Văn T4, Dương Văn N, Dương Văn H1, Dương Văn T3, Dương Văn T2, Phạm Văn D và Dương Văn V bằng hình thức đánh xóc đĩa được thua bằng tiền, xác định tổng số tiền do các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 8.560.000 đồng. Với hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. [3] Xét kháng cáo của bị cáo xin giảm nhẹ mức hình phạt tù và cho hưởng án treo, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đánh giá bị cáo phạm tội với vai trò chủ mưu, rủ rê, cầm đầu là chưa chính xác. Vì sau khi ăn cơm tại nhà bà T4 xong, bị cáo T đã rủ các bị cáo khác tham gia đánh bạc và được các bị cáo đồng tình hưởng ứng, cùng tiếp nhận ý chí của nhau, bị cáo C đi xuống nhà ngang của bà T4 là mẹ đẻ trải chiếu để đánh bạc, sau đó các bị cáo lần lượt tham gia đánh bạc. Như vậy trong vụ án này, các bị cáo tham gia với vai trò đồng phạm giản đơn, không có sự bàn bạc, phân công tổ chức cụ thể, các bị cáo bột phát rủ nhau đánh bạc và đều được các bị cáo khác nhất trí ủng hộ, các bị cáo không có sự cấu kết chặt chẽ, phân công nhiệm vụ cụ thể. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo T 12 tháng tù là có phần nghiêm khắc, trong khi đó các bị cáo khác đều bị xử phạt từ 06 tháng đến 09 tháng tù và cho hưởng án treo, là chưa có sự công bằng để đánh giá đúng tính chất, mức độ, hành vi và vai trò của từng bị cáo. Quá trình điều tra và tại các phiên toà, bị cáo đều thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, tỏ rõ sự ăn năn hối cải. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo có đơn xin cải tạo tại địa phương và được chính quyền địa phương xác nhận, ngoài lần phạm tội này, bị cáo luôn chấp hành tốt đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và quy định của địa phương, đây không phải là tình tiết giảm nhẹ, nhưng cũng là căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét quyết định hình phạt đối với bị cáo. Xét thấy, bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm

trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, số tiền bị cáo sử dụng để đánh bạc không lớn, bị cáo có nơi cư trú cụ thể, ổn định, rõ ràng, bị cáo thuộc hộ cận nghèo theo quy định của Chính phủ, nếu buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn sẽ gây khó khăn cho gia đình bị cáo. Căn cứ Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP, ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự về án treo. Xét thấy, bị cáo có đủ điều kiện để được hưởng án treo, việc cho bị cáo được hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không làm ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, trật tự xã hội. Để thể hiện chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước đối với người lần đầu phạm tội, ăn năn hối cải, nên có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, theo hướng giữ nguyên mức hình phạt tù và cho hưởng án treo, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo xin giảm nhẹ mức hình phạt tù. [4] Về án phí: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận một phần, nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật. [5] Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Dương Văn T, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 120/2021/HSST, ngày 08/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên về mức hình phạt tù đối với bị cáo như sau: 1. Tuyên bố bị cáo Dương Văn T phạm tội “Đánh bạc”. 2. Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Dương Văn T 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi tư) tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. - Giao bị cáo Dương Văn T cho Ủy ban nhân dân xã ĐT, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. - Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. - Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo, theo quy định tại Điều 93 Luật Thi hành án hình sự. 3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ

Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Dương Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. 4. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 120/2021/HSST, ngày 08/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày tuyên án 08/12/2021./.

Cỡ chữ