- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn K - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 123/2020/HS-ST Ngày: 19/06/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thường Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hải Bà Hoàng Thị Lê Dung - Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Ngọc Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố V. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Phùng Thị Kim Thoa – Kiểm sát viên. Ngày 19 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 138/2020/HSST ngày 03 tháng 6 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 143/2020/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 6 năm 2020, đối với bị cáo: Nguyễn Văn K (tên gọi khác: Hiếu), sinh năm 1978 tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Hộ khẩu thường trú: Không có; chỗ ở trước khi bị bắt: Phòng 2508 chung cư D, Trung tâm đô thị C, phường N, thành phố V; trình độ văn hóa: 9/12; nghề nghiệp: Buôn bán; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên Chúa; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; con ông Lê Trung Mến (đã chết) và bà Nguyễn Thị Vui, sinh năm 1955; gia đình bị cáo có 04 anh chị em, bị cáo là con đầu; chung sống như vợ chồng với Vũ Ánh Tuyết, sinh năm 1981; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt ngày 15 tháng 3 năm 2020, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố V (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 15-3-2020, tại căn hộ 2508 chung cư D, Trung tâm đô thị C, phường N, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Đồn Biên phòng Bến Đá - Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu, bắt quả tang Nguyễn Văn K đang tàng trữ trái phép chất ma túy (Methamphetamine).
Quá trình điều tra, Nguyễn Văn K khai nhận: K sử dụng ma túy từ cuối năm 2018, số ma túy bị lực lượng chức năng thu giữ do K mua của người đàn không rõ lai lịch ở khu vực xóm Lăng, phường T, thành phố V với giá 1.600.000đ (Một triệu sáu trăm ngàn đồng) nhằm mục đích sử dụng thì bị bắt quả tang như trên. Tại Bản kết luận giám định số 147/GĐMT-PC09(Đ2) ngày 18 tháng 3 năm 2020 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, kết luận: Mẫu chất kết tinh không màu - trong suốt chứa trong 01 (một) gói ny lông hàn kín, được niêm phong trong một phong bì màu trắng, có hình dấu của Đồn Biên phòng Bến Đá - Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, cùng các chữ ký ghi họ tên: Trung tá Nguyễn Văn K , Nguyễn Khắc D, Vũ Ánh T, Đinh Bá V, Nguyễn Văn K, Phạm Đức T, Nguyễn Văn H, gửi đến giám định có khối lượng 1,9035gam, là ma túy, loại Methamphetamine. Quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Cơ quan chức năng thu giữ của Nguyễn Văn K 01 gói nylon hàn kín bên trong có chứa chất kết tinh không màu trong suốt qua giám định là ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 1,9035gam. Số vật chứng này được Cơ quan điều tra Công an thành phố V chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố V quản lý, chờ xử lý. Bản cáo trạng số 147/CT-VKS ngày 01-6-2020, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố V đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên cáo trạng nội dung đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K từ 12 (Mười hai) đến 18 (Mười tám) tháng tù; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy là tang vật của vụ án. Bị cáo Nguyễn Văn K đã khai nhận về toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên. Khi nói lời sau cùng, bị cáo thể hiện ăn năn, hối cải và xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đối chiếu lời khai nhận tội của bị cáo với lời khai của người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hoàn toàn phù hợp, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 15-03-2020, tại căn hộ 2508 chung cư D, Trung tâm đô thị C, phường N, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Đồn Biên phòng Bến Đá - Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, bắt quả tang Nguyễn Văn K đang tàng trữ 1,9035 gam ma túy, loại Methamphetamine. Số ma túy này K khai mua của một người đàn ông (không rõ lai lịch) ở khu vực xóm Lăng, phường T, thành phố V với giá 1.600.000 đồng để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Đối với đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo, do chưa xác định được lai lịch nên đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ đủ căn cứ xử lý sau. [3] Về tính chất, mức độ đối với hành vi phạm tội của bị cáo: Xét tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra là nguy hiểm; đã xâm phạm đến quyền quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy; gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội. Góp phần tạo ra mầm mống của những tệ nạn xã hội và tội phạm. Vì vậy, cần phải xử lý và tuyên mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ đối với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục riêng và răn đe, phòng ngừa chung về tội phạm. [4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: [4.1] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. [4.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. [5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo sử dụng ma túy, không xác định được thu nhập và tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. [6] Về xử lý vật chứng vụ án: - Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy là tang vật vụ án; [7] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn K 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15 tháng 3 năm 2020. 2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. - Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy là tang vật vụ án; Thực hiện xử lý vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số: 156/BB.THA ngày 18 tháng 6 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố V. 3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn K phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. 4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Nơi nhận: - TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - VKSND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu - Sở Tư pháp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - VKSND Tp.V; - Công An Tp.V; Trịnh Thị Thường - Chi cục THADS Tp.V; - Bị cáo. - Lưu hồ sơ vụ án. Các Hội thẩm nhân dân - | T M . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM T H Ẩ M PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (PV27); HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Kiên |