- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Căn cứ chính? Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Ủ TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 123/2020/HNGĐ-ST Ngày: 06 - 7 - 2020 V/v: Tranh chấp về ly hôn và nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NG ĨA IỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN
Ủ
ỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Hùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Văn Tuyển.
2. Bà Nguyễn Thị Tua - Nguyên Chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ huyện Vị Thủy.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thông - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V Th y, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Bích Thuận - Kiểm sát viên.
Trong ngày 06 tháng 7 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 06/2019/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 12 năm 2019 về việc “Tranh chấp về ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 49/2020/QĐST-HNGĐ, ngày 17 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Từ Ngọc H sinh năm 1983; địa chỉ: Khu vực A phường T, quận M, thành phố C (Có mặt).
Bị đơn: Anh Huỳnh Văn T sinh năm 1986; địa chỉ: Ấp 8 xã Đ huyện V, tỉnh H (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 02/12/2019 và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Từ Ngọc H trình bày: Vào năm 2003 giữa chị H với bị đơn anh Huỳnh Văn T tự nguyện sống chung với nhau như vợ chồng, đến năm 2009 mới đăng ký kết hôn. Anh chị sống hạnh phúc đến năm 2011 thì phát sinh mâu thuẫn, cho đến năm 2019 thì ly thân cho đến nay, nguyên nhân do anh T đánh đập nhiều lần. Do đó chị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với bị đơn. Về con chung: giữa chị với anh T có 03 con chung tên Huỳnh Văn H, sinh ngày 27/01/2004; Huỳnh Ngọc Kiều V, sinh ngày 31/10/2006 và Huỳnh Văn Gia B, sinh ngày 09/3/2018, hiện nay cả ba cháu đang sống với chị H, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu cấp dưỡng. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, nên không yêu cầu giải quyết.
Quá trình thu thập chứng cứ, bị đơn anh Huỳnh Văn T đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt, không lý do cũng không có ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án gồm: Đơn khởi kiện; bản tự khai; bản sao giấy khai sinh (H, V, B); bản phô tô giấy chứng minh nhân dân; sổ hộ khẩu (phô tô), giấy chứng nhận kết hôn, đơn xin xác nhận, giấy xác nhận đã nhận đơn khởi kiện; thông báo nộp tạm ứng án phí, biên bản tống đạt, biên lai thu tạm ứng án phí, quyết định phân công Thẩm phán, thông báo thụ lý vụ án, biên bản xác minh, biên bản niêm yết, biên bản tống đạt; bản khai của các cháu Hiền và Vi, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; biên bản không tiến hành hòa giải được; biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; biên bản không tiến hành hòa giải được (lần 2); thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử; quyết định phân công Kiểm sát viên; biên bản giao nhận hồ sơ quyết định đưa vụ án ra xét xử; biên bản phiên tòa, biên bản thảo luận, quyết định hoãn phiên tòa.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc thụ lý, giải quyết vụ án của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa cũng như ý thức chấp hành pháp luật của nguyên đơn là đúng pháp luật, bị đơn chấp hành không đúng pháp luật. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Từ Ngọc H với anh Huỳnh Văn T được ly hôn; về con chung, tiếp tục giao 03 con chung cho chị H nuôi dưỡng, anh T chưa phải cấp dưỡng; về tài sản chung, nợ chung: không có nên không đề cập đến. Án phí chị H phải nộp theo quy định; kiến nghị khắc phục vi phạm: không có.
Các tình tiết, sự kiện các bên đã thống nhất: Không có.
Vấn đề đương sự không thống nhất: Không có.
NHẬN Đ NH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Áp dụng pháp luật về tố tụng: Chị Từ Ngọc H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Huỳnh Văn T, thời điểm chị H khởi kiện thì anh T có địa chỉ tại ấp 08, xã Đ, huyện V. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, để xác định quan hệ tranh chấp thuộc trường hợp: “Tranh chấp về ly hôn và nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang. Đối với bị đơn anh Huỳnh Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vắng mặt không lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, để xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Áp dụng pháp luật về nội dung: Vào ngày 03/6/2009, giữa chị H với anh T xác lập quan hệ hôn nhân và có đăng ký kết hôn, nên áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết tranh chấp.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Thời điểm chị H với anh T sống chung với nhau như vợ chồng, thì anh chị đã đủ điều kiện đăng ký kết hôn, theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; đến năm 2009 anh chị mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Vị Đông huyện Vị Thủy, nên hôn nhân giữa anh chị được pháp luật bảo vệ. Sau khi kết hôn, đến năm 2011 giữa chị H với anh T phát sinh mâu thuẫn, cho đến năm 2019 anh chị ly thân cho đến nay; theo biên bản xác minh ngày 12/12/2019, thì mâu thuẫn giữa anh chị địa phương không rõ nên chưa đủ căn cứ để xác định anh T đánh đập chị; từ khi ly thân cho đến nay là một thời gian dài, các bên không có thiện chí khắc phục mâu thuẫn, để xây dựng hạnh phúc gia đình và chăm sóc nuôi dưỡng con chung. Xét thấy, mẫu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu xin ly hôn của chị H là có căn cứ.
[4] Về con chung: Giữa chị H với anh T có 03 con chung, gồm: Huỳnh Văn H, sinh ngày 27/01/2004; Huỳnh Ngọc Kiều V, sinh ngày 31/10/2006 và Huỳnh Văn Gia B sinh ngày 09/3/2018. Theo đơn khởi kiện chị H đề nghị con theo ai người đó nuôi dưỡng; tuy nhiên, cháu H và cháu V đã trên 07 tuổi, các cháu có nguyện vọng sống với chị H (BL 24, 25), còn cháu B chị H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, tại phiên tòa chị H yêu cầu được nuôi dưỡng 03 con chung, do các cháu có anh chị em đồng thời cháu Hiền và cháu Vi có nguyện vọng sống với chị H, nên ưu tiên các cháu được sống cùng với nhau, do đó tiếp tục giao cả 03 cháu cho chị H nuôi dưỡng. Về phía bị đơn anh T, quá trình thu thập chứng cứ, cho đến phiên tòa hôm nay là một thời gian dài, mặc dù đã nhận được thông báo hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không lý do cũng không có ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên anh phải chịu hậu quả của việc không chứng minh.
[5] Về cấp dưỡng: Trong đơn khởi kiện và tại phiên tòa, chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng. Đây là quyền tự định đoạt của đương sự; do đó anh T chưa phải cấp dưỡng. Sau khi ly hôn, nếu việc nuôi dưỡng con chung gặp khó khăn chị H có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng bằng một vụ án khác.
[6] Về tài sản chung, nợ chung: Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa, chị H khẳng định về nợ chung không có; tài sản chung cha mẹ chồng cho ruộng nhưng chưa tách giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên chị không yêu cầu giải quyết.
[7] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Do chị H là nguyên đơn trong vụ án. Theo khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “4. Trong vụ án ly hôn thì nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn”. Căn cứ vào quy định của pháp luật viện dẫn trên, thì chị H phải chịu án phí. Do đó ý kiến của Kiểm sát viên đề xuất hướng giải quyết vụ án là có căn cứ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾ Đ NH:
Căn cứ: các Điều 5, 6, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 và 4 Điều 91, khoản 1 Điều 92 Điều 93 Điều 94, Điều 97, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271 Điều 272 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14: Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Áp dụng: các Điều 9, 11, 89, 91 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; các Điều 57, 81, 82, 83, 131 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Từ Ngọc H.
1. Về hôn nhân: Cho chị Từ Ngọc H với anh Huỳnh Văn T được ly hôn.
2. Về con chung: Chị Từ Ngọc H được tiếp tục nuôi dưỡng ba người con chung gồm: cháu Huỳnh Văn H, sinh ngày 27/01/2004; cháu Huỳnh Ngọc Kiều V, sinh ngày 31/10/2006 và cháu Huỳnh Văn Gia B, sinh ngày 09/3/2018. Anh Huỳnh Văn T chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, nên không xem xét giải quyết.
4. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Từ Ngọc H phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000823, ngày 10 tháng 12 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang thành án phí. Chị H đã nộp xong.
5. Quyền kháng cáo: Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại Trụ sở ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - TAND tỉnh Hậu Giang; - VKSND huyện Vị Thủy; - Chi cục THADS huyện Vị Thủy; - UBND (nơi đăng ký kết hôn); - Lưu hồ sơ vụ án, VP; - Cổng TTĐT (để công bố); | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ ẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm ăn ùng |