- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn Quỳnh tàng trữ chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1- Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH SƠN LA Bản án số: 123/2019/HSST Ngày 31 tháng 10 năm 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Bá Toàn
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Thanh Vân
2. Ông Lò Văn Thôn
- Thư ký phiên toà:
Bà Hà Thị Điệp - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên toà:
Bà Lò Thị Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 10 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 110/2019/TLST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 112/2019/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn Q - Sinh ngày: 30/4/1985; Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Bản P, xã N, huyện S, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông Lò Văn T, con bà Lò Thị S; Bị cáo có vợ là Lò Thị L và có 02 con (lớn sinh 2011, nhỏ sinh 2012).
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ, giam từ ngày 19/6/2019 cho đến nay - Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 15 giờ 10 phút ngày 19/6/2019 Tổ công tác Công an huyện Sông Mã phối hợp cùng Công an xã Nậm Ty đến nhà Lò Văn Q để tiến hành test thử ma túy đưa đi cai nghiện bắt buộc, khi Tổ công tác đến Q đã lấy chiếc tẩu dùng để hút ma túy và 01 gói ma túy để ở chân giường ngủ ra giao nộp, Tổ công tác lập biên bản bắt quả tang thu giữ 01 gói nilon màu xanh bên trong có 02 mảnh viên nén màu hồng và 01 cục bột màu trắng (Q khai nhận là Hồng phiến và Heroine) và 01 chiếc tẩu dùng để sử dụng ma túy.
Ngày 20/6/2019 tại Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La tiến hành mở niêm phong cân tịnh xác định khối lượng, kết quả: 02 mảnh viên nén màu hồng có khối lượng 0,04 gam, đã sử dụng toàn bộ để giám định ký hiệu Q1; 01 cục chất bột màu trắng có khối lượng 0,08 gam, đã sử dụng hết làm mẫu gửi giám định ký hiệu Q2.
Tại kết luận giám định số 1151/KLMT ngày 21/6/2019 của Phòng KTHS Công an tỉnh Sơn La đã kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu Q1 là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,04 gam. Mẫu gửi giám định ký hiệu Q2 là ma túy, loại Heroine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,08 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,04 gam loại Methamphetamine và 0,08 gam loại Heroine.
Quá trình điều tra Lò Văn Q khai nhận; Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 18/6/2019 Q cầm theo số tiền 100.000đ đi bộ đến nhà ông Cà Văn Ộ ở bản N, xã N, huyện S mục đích để tìm mua ma túy sử dụng, tại đây Q đã được Ô bán cho 01 gói nilon màu xanh bên trong có chứa 01 viên Hồng phiến và một cục Heroine; về nhà Q sử dụng 02 lần, mỗi lần sử dụng Q đều sử dụng một ít Heroine và một ít Hồng phiến, số còn lại Q gói rồi cất cùng chiếc tẩu tự chế ở chân giường ngủ, đến khoảng 15 giờ ngày 19/6/2019 Tổ công tác Công an huyện Sông Mã cùng Ban Công an xã Nậm Ty đến để thử test ma túy, sau khi bị phát hiện Q đã lấy số ma túy còn lại cùng chiếc tẩu tự chế giao nộp cho Tổ công tác.
Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số 111/CT-VKSSM ngày 10 tháng 9 năm 2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đã truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Sông Mã để xét xử Lò Văn Q về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên toà kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS xử phạt từ 16
- 20 tháng tù; Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy số vật chứng liên quan. Miễn án án phí cho bị cáo.
Tại phiên tòa khi được nói lời sau cùng bị cáo thừa nhận hành vi của mình đã vi phạm pháp luật, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Sông Mã, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về các chứng cứ xác định tội danh: Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau:
- Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập vào hồi 15h10’ngày 19/6/2019, bắt quả tang Lò Văn Q có hành vi cất dấu 01 gói chất bột màu trắng và hai mảnh viên nén màu hồng nghi là ma tuý;
-Vật chứng bị thu giữ; Kết luận giám định số 1151/KLMT ngày 21/6/2019 kết luận số vật chứng đã thu của Quỳnh.
- Lời khai nhận tội của bị cáo về thời gian, địa điểm, diễn biến việc thực hiện tội phạm.
Tại phiên toà bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi, bị cáo vẫn giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án và hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc bị cáo đã thực hiện. Như vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS là có căn cứ.
Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 18/9/2019 Lò Văn Q mua được 01 viên Hồng phiến và một cục Heroine mục đích mang về sử dụng, sau khi sử dụng số ma túy còn lại là 02 mảnh viên Hồng phiến và một cục nhỏ Heroine Q gói cất dưới chân giường ngủ, ngày 19/6/2019 Tổ công tác Công an huyện Sông Mã phối hợp cùng Công an xã Nậm Ty đến nhà Q để test thử ma túy, tại đây Tổ công tác phát hiện gói ma tuý nên Q đã lấy gói ma túy giao nộp; khối lượng ma tuý là 0,04 gam loại chất Methamphetamine và 0,08 gam loại chất Heroine - Tổng khối lượng ma tuý bị thu giữ là 0,12gam.
Hành vi bị cáo thực hiện đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, bị cáo nhận thức được việc tàng trữ chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng đã bất chấp pháp luật cố tình thực hiện tội phạm, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương, là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, gây bức xúc trong xã hội.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải - là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; Cần căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ để quyết định một mức hình phạt phù hợp, nhằm trừng phạt, cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật, răn đe, phòng ngừa và thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý tại địa phương.
Về hình phạt bổ sung: Cơ quan điều tra đã làm rõ gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn thuộc hộ nghèo, vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Cần tịch thu tiêu hủy số vật chứng liên quan.
Về vấn đề khác liên quan đến vụ án: Đối với Cà Văn Ộ là người bị cáo khai đã bán cho bị cáo ma túy, quá trình điều tra Ộ không thừa nhận đã bán ma tuý cho bị cáo, ngoài lời khai của bị cáo không có tài liệu chứng cứ khác để chứng minh, nên không có căn cứ để xử lý.
Về án phí: Bị cáo thuộc hộ nghèo nên được miễn án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:
1- Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Lò Văn Q 16 ( mười sáu ) tháng tù - Thời hạn thụ hình tính từ ngày 19/06/2019.
2- Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a khoản1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 (một) tẩu tự chế cao 45cm
+ 01 (một) mảnh túi nilon màu xanh, 01 (một)vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở (được đựng trong 01 phong bì thư còn nguyên niêm phong).
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/9/2019 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Mã).
3- Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
Miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
4- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 31/10/2019./.
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh; - VKSND Tỉnh; - VKSND huyện - Công an huyện; - Trại giam; - THA hình sự; - CCTHA Dân sự; - Sở TP; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Bá Toàn |