- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Sinh - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 47 của Bộ luật hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P TỈNH THÁI NGUYÊN ––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 123/2019/HS-ST Ngày 18 - 9 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Sái Đức Trung.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hợi.
Bà Dương Thị Hồng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Vũ-Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2019, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 116/2019/TLST-HS, ngày 16 tháng 8 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 130/2019/HSST-QĐ ngày 03 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo:
Họ và tên Nguyễn Văn S, sinh năm: 1979.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn G, xã S, huyện T, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn H (đã chết) và bà: Bùi Thị L, sinh năm 1954; Vợ: Ninh Thị N, sinh năm 1981 và có 02 con (con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2005); Gia đình có 04 anh em bị cáo là con thứ 2.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/6/2019 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên.
(Có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Anh Dương Quang T, sinh năm 1983
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang.
(Vắng mặt)
- Người chứng kiến:
Ông Nguyễn Mạnh H, sinh năm 1967
Nơi cư trú: Xóm H, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
(Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 17 giờ 50 phút ngày 02/6/2019, Tổ công tác Công an huyện P làm nhiệm vụ tại khu vực xóm H, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên phát hiện một nam thanh niên có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra thì nam thanh niên khai tên là Nguyễn Văn S, sinh năm 1979, trú tại: Thôn G, xã S, huyện T, tỉnh Bắc Giang, đồng thời S tự giác lấy từ trong túi quần bên phải đang mặc ra 02 gói được gói bằng giấy bạc, bên trong mỗi gói có chứa chất bột màu trắng (S khai là Heroine) do Sinh mua về sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với S, niêm phong vật chứng và đưa về trụ sở Công an huyện P để giải quyết theo quy định.
Hồi 23 giờ 50 phút ngày 02/6/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P phối hợp với Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên, tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng số chất bột màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn S có tổng khối lượng là 0,443 gam (Không phẩy bốn bốn ba gam) và lấy toàn bộ 0,443 gam làm mẫu gửi giám định (ký hiệu A1).
Tại bản kết luận giám định số: 872/KL-KTHS ngày 10/6/2019 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên, kết luận: Chất bột dạng cục màu trắng trong (mẫu A1) thu giữ của Nguyễn Văn S gửi đến giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,443 gam (Không phẩy bốn bốn ba gam), sau giám định hoàn lại là 0,433 gam.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Văn S khai nhận như sau: Sinh là người nghiện chất ma túy nên thường xuyên phải đi mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 02/6/2019, S đi một mình từ nhà đến khu vực C, thuộc xã K, huyện P, tỉnh Thái Nguyên để tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Tại đây, S gặp 01 người đàn ông không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ, qua trao đổi S đã mua của người đàn ông này 01 gói ma túy loại Herôin với giá 100.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, S mang về đến thôn G, xã S, huyện T, tỉnh bắc Giang, bỏ gói ma túy ra chia thành 02 gói nhỏ rồi cất giấu vào trong túi quần đang mặc bên phải, sau đó đi ra đến khu vực xóm H, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên mục đích tìm nơi sử dụng, thì bị tổ công tác Công an huyện P phát hiện bắt quả tang thu giữ như nêu trên.
Cáo trạng số 128/CT-VKSPB ngày 15 tháng 8 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện P đã truy tố Nguyễn Văn S về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn S thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P sau khi phân tích, đánh giá chứng cứ, nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo đã kết luận: giữ nguyên cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị với Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt Nguyễn Văn S từ 30 đến 36 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong (ký hiện A1) bên trong có chứa 0,433 gam ma túy Heroine được hoàn lại sau giám định;
Tạm giữ của bị cáo S 01 điện thoại di động Nokia màu đen số imeil 00684 máy cũ đã qua sử dụng để đảm bảo cho việc Thi hành án;
- Trả lại cho anh T 01 xe mô tô nhãn hiệu oriental BKS 98M1-4034 xe không gương chiếu hậu cả hai bên, không có yếm cả hai bên, vỏ xe bên trái bị dập vỡ, số khung: 016738, số máy: 5A116738, không kiểm tra tình trạng bên trong xe và xăm lốp bên ngoài.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước theo quy định của pháp luật.
Kết thúc phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Cơ quan điều tra Công an huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Kiểm sát viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai đó có căn cứ chấp nhận vì đúng như cáo trạng truy tố, phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, sơ đồ hiện trường, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai của người tham gia tố tụng khác cùng các tài liệu chứng cứ khác. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định:
Khoảng 18 giờ 10 phút ngày 02/6/2019, tại khu vực xóm H, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, bị cáo Nguyễn Văn S là người nghiện chất ma túy đã có hành vi tàng trữ trên người 02 gói Heroine có khối lượng là 0,443 gam với mục đích để sử dụng cho bản thân, nhưng chưa kịp sử dụng thì bị Tổ công tác của Công an huyện P phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn S có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Nội dung Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine......có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự xã hội ở địa phương là nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm hình sự khác. Cần phải xử lý nghiêm minh bằng pháp luật hình sự và cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt.
Xét về nhân thân: Bị cáo là người nghiện ma túy không có tiền án, tiền sự, nguyên nhân mắc nghiện ma túy do bị bạn bè rủ rê.
Xét tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội thành khẩn khai báo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xét tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Xét nhân thân, tính chất mức độ tội phạm và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc một mức án tương ứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.
Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử thấy, bị cáo là người nghiện ma túy không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo
Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- Đối với 01 bì niêm phong (ký hiện A1) bên trong có chứa 0,433 gam ma túy Heroine được hoàn lại sau giám định không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy;
- Đối với 01 điện thoại di động Nokia màu đen số imeil 00684 máy cũ đã qua sử dụng của bị cáo cần tạm giữ để đảm bảo cho việc Thi hành án;
- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Oriental BKS: 98M1-4034 xe không gương chiếu hậu cả hai bên, không có yếm cả hai bên, vỏ xe bên trái bị dập vỡ, số khung: 016738, số máy: 5A116738, không kiểm tra tình trạng bên trong xe và xăm lốp bên ngoài. Do bị cáo mượn của anh T, xác định không phải là phương tiện phạm tội nên cần trả lại cho anh T quản lý, sử dụng.
Xét đề nghị của Đại diện viện kiểm sát trong lời luận tội về tội danh, mức hình phạt chính, phạt bổ sung, xử lý vật chứng vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật cần chấp nhận.
Về tạm giam bị cáo sau khi tuyên án: Căn cứ vào Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự, ra quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Văn S với thời hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, cần buộc bị cáo phải chịu một khoản án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ, áp dụng pháp luật:
- Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 47 của Bộ luật hình sự;
- Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 326; Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt chính: Xử phạt Nguyễn Văn S 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02 tháng 6 năm 2019.
3. Về tạm giam bị cáo sau khi tuyên án: Ra quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Văn S với thời hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
4. Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:
- Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong (ký hiện A1) bên trong có chứa 0,433 gam ma túy Heroine được hoàn lại sau giám định;
- Tạm giữ của bị cáo S 01 điện thoại di động Nokia màu đen số imeil 00684 máy cũ đã qua sử dụng để bảo đảm cho việc Thi hành án;
- Trả lại cho anh T 01 xe mô tô nhãn hiệu Oriental BKS: 98M1-4034 xe không gương chiếu hậu cả hai bên, không có yếm cả hai bên, vỏ xe bên trái bị dập vỡ, số khung: 016738, số máy: 5A116738, không kiểm tra tình trạng bên trong xe và xăm lốp bên ngoài.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/8/2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra của Công an huyện P và Chi cục Thi hành án dân sự huyện P).
5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn S phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp vào ngân sách Nhà nước.
6. Thông báo về quyền kháng cáo: Có mặt bị cáo (S) có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án (anh T) có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKS ND tỉnh Thái Nguyên; - VKS ND huyện P; - Cơ quan điều tra CA huyện P; - CQTHAHS Công an huyện P; - CC T.H.A DS huyện P; - Bị cáo-NLQ; - Sở tư pháp tỉnh Thái Nguyên; - Lưu: HS, VP, T.H.A HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Sái Đức Trung |