vanban.org

Bản án 123/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,

giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; [1] Về hôn nhân: bà Trần Thị Tđược ly hôn với ông Đàm Hồng H. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp quyền nuôi con giữa Trần Thị T và Đàm Hồng H"
  • Tòa quyết gì? ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CAO BẰNG
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 123/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 16/8/2019
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nông Quốc Hùng.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đinh Văn Hải

2. Bà Nông Thị Duyên

Thư ký phiên toà: Ông Tống Văn Tài - Thư ký Toà án nhân dân Thành phố

Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng tham gia phiên tòa:

Bà Trương Thị Nha - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2019. Tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cao

Bằng, tỉnh Cao Bằng. Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng tiến hành xét xử công

khai vụ án thụ lý số: 211/2018/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 12 năm 2018 về việc

“Ly hôn, tranh chấp quyền nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số:

128/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 7 năm 2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị T - sinh năm 1986; dân tộc: kinh.

HKTT: số nhà 83, tổ 6, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Có mặt.

Bị đơn: Ông Đàm Hồng H - sinh năm 1981; dân tộc: tày.

HKTT: số nhà 83, tổ 6, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 01/11/2018 và các lời khai trong quá trình giải

quyết vụ án, nguyên đơn là bà Trần Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông H kết hôn vào ngày 10/8/2004, hôn nhân

trên cơ sở tự nguyện, có được tìm hiểu, có tiến hành lễ cưới ở một bên gia đình

chồng, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã H, thị xã C (nay là phường H,

thành phố C), tỉnh Cao Bằng.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc được đến năm

2010 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do ông H nghiện ma túy,

việc ông H nghiện ma túy làm ảnh hưởng lớn đến kinh tế gia đình, bà T đã cho

ông H nhiều cơ hội để ông H cai nghiện nhưng không thành. Mâu thuẫn thường xuyên xảy ra, vợ chồng luôn cãi chửi nhau và đã xảy ra xô xát nhưng không để lại thương tích. Tại phiên tòa bà T xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, yêu cầu được giải quyết ly hôn.

Về con chung: quá trình chung sống bà T và ông H có 02 con chung tên là:

Đàm Minh H (giới tính: nam) - sinh ngày 03/6/2005 và Đàm Thị Phương T sinh 03/12/2006 (giới tính: nữ). Tại Biên bản hòa giải ngày 12/3/2019 bà T và ông H thỏa thuận thống nhất con chung sẽ giao cho bà T là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả 02 con chung cho đến khi các con đủ 18 tuổi. Không đặt ra vấn đề đóng góp cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: bà T không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Tại Biên bản lấy lời khai và Tại Biên bản hòa giải ngày 12/3/2019 ông Huy

trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: về thời gian và điều kiện kết hôn ông H nhất trí với ý

kiến của bà T đã trình bày.

Về quá trình chung sống ông H trình bày: sau khi kết hôn vợ chồng chung

sống hòa thuận và hạnh phúc; ông H thừa nhận bản thân nghiện ma túy nhưng sẽ cố gắng cai nghiện, mong bà T cho thêm một cơ hội ông H sẽ không chơi bời, không sử dụng ma túy nữa. Ông H xác nhận tình cảm vợ chồng vẫn còn và mong muốn được đoàn tụ gia đình cùng nuôi dạy con chung. Ông H không nhất trí ly hôn.

Về con chung: có 02 con chung tên là: Đàm Minh H (giới tính: nam) - sinh

ngày 03/6/2005 và Đàm Thị Phương T - sinh 03/12/2006 (giới tính: nữ), trường hợp ly hôn ông H nhất trí con chung sẽ giao cho bà T là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả 02 con chung cho đến khi các con đủ 18 tuổi. Không đặt ra vấn đề đóng góp cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: ông H không yêu cầu tòa án giải quyết.

Về nợ chung, nợ riêng: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngày 18/3/2019 Tòa án đã tiến hành lấy lời khai đối với cháu Đàm Minh H

và cháu Đàm Thị Phương T là con chung của bà T và ông H. Qua việc lấy lời khai cháu H và cháu T đều có nguyện vọng: trường hợp bố mẹ ly hôn các cháu có nguyện vọng được sống trực tiếp cùng mẹ, vì mẹ là người hàng ngày lo việc ăn ở, sinh hoạt, học tập cho các cháu.

Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng đã tiến hành xác minh về tình trạng

hôn nhân của bà T và ông H tại nơi cư trú là tổ 6, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Tại biên bản xác minh ngày 17/6/2019 được biết: bà Trần Thị T và ông Đàm Hồng H có quan hệ là vợ chồng. Bà T và ông H đều đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ 6, phường H, thành phố C. Ông H là đối tượng nghiện hút, không có công ăn việc làm, còn bà T bán hàng hoa quả ở chợ X, thành phố C. Bản thân bà T đã đến trình báo với tổ trưởng dân phố về việc ông H đánh đập và dọa giết, sự việc này đã được tổ trưởng dân phố báo lên công an địa bàn phường Hòa Chung để nắm sự việc. Hiện nay cả bà T và ông H đều sinh sống tại tổ 6, phường H, mọi sinh hoạt hàng ngày đều do chị T lo toan và gánh vác. Theo đánh giá của địa

phương thì trường hợp bà T và ông H phải ly hôn thì bà T có điều kiện tốt hơn về

việc nuôi dạy con cái.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng phát

biểu:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký

phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi

thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng theo

quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát

nhận thấy bà T và ông H về mặt tình cảm vợ chồng không còn, bà T yêu cầu ly

hôn, ông H không nhất trí ly hôn, yêu cầu được đoàn tụ gia đình nhưng không

được bà T chấp thuận. Như vậy, tình cảm vợ chồng giữa bà T và ông H không thể

hàn gắn được, do đó cần thiết cho bà T được ly hôn với ông H. Về con chung: con

có 02 con chung tên là: Đàm Minh H (giới tính: nam) - sinh ngày 03/6/2005 và

Đàm Thị Phương T 03/12/2006 (giới tính: nữ), trường hợp ly hôn bà T và ông H

thống nhất con chung sẽ giao cho bà T là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc,

giáo dục cả 02 con chung cho đến khi các con đủ 18 tuổi. Không đặt ra vấn đề

đóng góp cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: bà T và ông H đều xác nhận không yêu cầu Tòa án giải

quyết, do đó không đặt ra vấn đề xem xét. Về nợ chung, nợ riêng: không yêu cầu

Tòa án giải quyết, do đó không đặt ra vấn đề xem xét.

Từ những phân tích trên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng đề nghị

Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Xử chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Trần Thị T được ly hôn ông Đàm Hồng

H; về con chung: giao con chung cho bà T là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm

sóc, giáo dục cả 02 con chung cho đến khi các con đủ 18 tuổi, không đặt ra vấn đề

đóng góp cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung: không đặt ra xem xét; về nợ

chung, nợ riêng: không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó không đặt ra vấn đề xem

xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, căn cứ

vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, sau khi xem xét đầy đủ ý kiến trình bày của

nguyên đơn, bị đơn, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về mặt tố tụng: bà Trần Thị T viết đơn khởi kiện “Ly hôn, tranh chấp

nuôi con” với ông Đàm Hồng H, bị đơn là ông Đàm Hồng H có nơi cư trú tại: tổ

6, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; do đó, căn cứ vào Điều 28, Điều 35,

Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa

án nhân dân thành phố Cao Bằng.

Về hôn nhân: bà Trần Thị T và ông Đàm Hồng H kết hôn vào ngày

10/8/2004, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có được tìm hiểu, có tiến hành lễ cưới theo phong tục tập quán, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã H, thị xã C (nay là phường H, thành phố C), tỉnh Cao Bằng. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông H là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Về yêu cầu ly hôn của nguyên đơn:

Hội đồng xét xử xét thấy: trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã kiên trì

hòa giải và tạo điều kiện về mặt thời gian cho các bên đoàn tụ gia đình nhưng kết quả các bên không thể đoàn tụ được; tại phiên tòa hôm nay bà T giữ nguyên quan điểm xin được ly hôn vì không còn tình cảm và không thể sống chung kéo dài, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng; ông H vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong quá trình hòa giải ông H có yêu cầu được đoàn tụ gia đình và hứa sẽ từ bỏ ma túy nhưng không được bà T chấp thuận. Vì vậy, xét thấy bà T và ông H về tình cảm vợ chồng đã có mâu thuẫn, vợ chồng không còn tin tưởng, tôn trọng, yêu thương nhau nữa, mâu thuẫn đã xảy ra thường xuyên và liên tục, ngoài việc cãi chửi nhau còn xảy ra xô xát. Như vậy, bà T và ông H đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau về mọi mặt trong cuộc sống gia đình, ai biết bổn phận của người đó, trong khi đó quyền và nghĩa vụ vợ chồng được ghi nhận trong quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình: “Vợ chồng có nghĩa vụ, thương yêu, chung thuỷ, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Như vậy, quan hệ vợ chồng giữa bà T và ông H lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, đã thỏa mãn căn cứ cho ly hôn quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”. Do đó, cho bà T được ly hôn với ông H theo như yêu cầu của bà T cũng như quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ.

Về con chung: Trong quá trình giải quyết vụ án các bên đương sự thống

nhất, con chung tên là: Đàm Minh H (giới tính: nam) - sinh ngày 03/6/2005 và Đàm Thị Phương T – sinh ngày 03/12/2006 (giới tính: nữ) sẽ giao cho bà T là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả 02 con chung cho đến khi các con đủ 18 tuổi. Không đặt ra vấn đề đóng góp cấp dưỡng nuôi con. Nguyện vọng của các cháu khi được lấy lời khai cũng mong muốn được sống trực tiếp với mẹ. Như vậy về con chung cần ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

Về tài sản chung, nợ chung, nợ riêng: bà T và ông H không yêu cầu Tòa

án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra vấn đề xem xét giải quyết.

Về án phí: bà Trần Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định

của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng các Điều 56, 58, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm

2014;

- Áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Áp dụng điểm a, khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14

ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,

giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

[1] Về hôn nhân: bà Trần Thị Tđược ly hôn với ông Đàm Hồng H.

[2] Về con chung: ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau: giao

con chung tên là: Đàm Minh H (giới tính: nam) - sinh ngày 03/6/2005 và Đàm

Thị Phương T – sinh ngày 03/12/2006 (giới tính: nữ) cho bà Trần Thị T là người

trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả 02 con chung cho đến khi các con đủ

18 tuổi. Không đặt ra vấn đề đóng góp cấp dưỡng nuôi con.

Việc thăm nom con sau khi ly hôn: sau khi ly hôn người không trực tiếp

nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ

trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không

trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

[3] Về chia tài sản chung, nợ chung, nợ riêng: không đặt ra vấn đề xem xét,

giải quyết;

[4] Về án phí: bà Trần Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm

với yêu cầu ly hôn để sung công quỹ nhà nước. Bà T đã nộp số tiền tạm ứng án

phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng theo biên lai số AA/2018/0000265 ngày

07/12/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, nay được trừ vào

số tiền án phí bà T phải nộp. Xác nhận bà T đã nộp đủ án phí.

[5]Về quyền kháng cáo: án xử công khai có mặt nguyên đơn, nguyên đơn

được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Vắng

mặt bị đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ

ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ