vanban.org

Bản án 123/2018/HSST — Hình sự

TAND Q. Ba Đình, TP. Hà Nội Tuyên án 20/07/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Trương Tuấn A 01 (Một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11 tháng 4 năm 2018.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điểm c, Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điểm a, Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Tuấn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Trương Tuấn A 01 (Một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11 tháng 4 năm 2018.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN B
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 123/2018/HSST
Ngày 20 tháng 7 năm 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Long

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lương Thị Phương

2. Bà Nguyễn Thị Thụy

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Lan Hương

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận B tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Phương Thảo – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 7 năm 2018, tại trụ Tòa án nhân dân quân Ba Đình, thành phố Hà Nội. Tòa án nhân dân quận B đưa ra xét xử vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 132/2018/TL - HSST ngày 05 tháng 7 năm 2018 đối với:

Bị cáo Trương Tuấn A, sinh năm 1983; Đăng ký hộ khẩu và nơi cư trú: số 1A4 – 28 Đ, phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Không; Văn hòa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Họ và tên bố: Trương Hữu T, sinh năm 1953 (đã chết); Họ và tên mẹ: Thành Thị Bích L, sinh năm 1958; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Nhân thân: 01 tiền sự (hết thời hiệu); Bị bắt quả tang ngày 11/4/2018. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Bị cáo Trương Tuấn A bị Viện kiểm sát nhân dân quận B, thành phố Hà Nội truy tố về hành vi phạm tội như sau: Khoảng 11 giờ, ngày 11 tháng 4 năm 2018, Trương Tuấn A đi bộ từ Văn Miếu, quận B, thành phố Hà Nội đến khu vực phường Phúc Xá, quận B, thành phố Hà Nội để mua ma túy về sử dụng. Khi đi đến dốc Tân Ấp, phường Phúc Xá, quận B, thành phố Hà Nội thì Tuấn A gặp và mua của 01 người đàn ông không quen biết 01 gói Heroine giá 100.000. Mua xong Tuấn A cầm gói ma túy trong lòng bàn tay phải để đi tìm nơi để sử dụng. Khoảng 11 giờ 45 phút cùng ngày, khi Tuấn A đi đến số nhà 26 ngõ 41 đường Hồng Hà, phường Phúc Xá, quận B thì bị Tổ công tác Đội CSĐTTP về ma túy – Công an quận B kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Tuấn A đang tàng trữ 01 gói Heroine bọc giấy bạc màu vàng. Tổ công tác đã đưa Tuấn A cùng tang vật về trụ sở công an để điều tra làm rõ.

Tại cơ quan điều tra, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án nêu trên.

Kết luận giám định số: 3598/KLGĐ-PC54 ngày 20 tháng 4 năm 2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy màu vàng là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng 0,158 gam.

Cáo trạng số: 133/CT-VKSBĐ ngày 28 tháng 6 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân quận B, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Kiểm sát viên - Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm vụ án và đưa ra những chứng cứ, lý lẽ kết luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c, Khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xét nhân thân bị cáo có 01 tiền sự (hết thời hiệu), thái độ khai báo thành khẩn.

Đề nghị về hình phạt: Áp dụng Điểm c, Khoản 1, Điều 249; Điều 38; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án từ 14 tháng đến 18 tháng tù.

Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 để tịch thu và tiêu hủy 01 gói niêm phong ma túy đã qua giám định là ma túy loại Heroine bên ngoài có chữ ký của giám định viên và đối tượng.

Đối tượng bán ma túy cho bị cáo, cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không làm rõ được lai lịch cụ thể nên không có cơ sở để xử lý.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội, bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố không có tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và người làm chứng.

NHẬN ĐỊNH HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

[1] Quá trình điều tra, truy tố liên quan đến đến việc giải quyết vụ án (Về hành vi, các quyết định tố tụng), Điều tra viên, Kiểm sát viên đã tiến hành đúng các quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015;

[2] Nội dung: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thừa nhận toàn bộ diễn biến vụ án đúng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 11 giờ 45 phút, ngày 11 tháng 4 năm 2018, tại trước cửa số nhà 26 ngõ 41, đường Hồng Hà, phường Phúc Xá, quận B, thành phố Hà Nội, Đội CSĐTTP về ma túy – Công an quận B phát hiện bắt quả tang Trương Tuấn A cất giấu 01 gói Heroine có khối lượng 0,158 gam tại lòng bàn tay phải mục đích sử dụng.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định cùng các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c, Khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương. Xét nhân thân bị cáo 01tiền sự (hết thời hiệu). Do vậy phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Khi xem xét quyết định mức hình phạt đối với bị cáo: Hội đồng xét xử xét thái độ của bị cáo tại phiên tòa thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình. Cần thiết áp dụng Điểm s, Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[3] Xử lý vật chứng:

Tịch thu và tiêu hủy 01 gói niêm phong ma túy đã qua giám định là ma túy loại Heroine bên ngoài có chữ ký của giám định viên và đối tượng.

Đối tượng bán ma túy cho bị cáo, cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không làm rõ được lai lịch cụ thể nên không có cơ sở để xử lý.

[4] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các căn cứ, nhận định của Hội đồng xét xử;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Điểm c, Khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s, Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015;

Xử phạt: Trương Tuấn A 01 (Một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11 tháng 4 năm 2018.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Xử lý vật chứng: Căn cứ Điểm c, Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điểm a, Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Tịch thu và tiêu hủy 01 gói niêm phong ma túy đã qua giám định là ma túy loại Heroine bên ngoài có chữ ký của giám định viên và đối tượng, theo biên bản bàn giao vật chứng số: 137 ngày 02 tháng 7 năm 2018 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận B, thành phố Hà Nội.

- Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày 20 tháng 7 năm 2018./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ