vanban.org

Bản án 123/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đồ Thị Thùy T được ly hôn anh Đỗ Văn N.

Về con chung: Chị Đồ Thị Thùy T được tiếp tục nuôi dưỡng con chung Đỗ Phúc N, sinh ngày 13/05/2015, hiện nay con chung đang sống với chị T, chị T không yêu cầu anh Đỗ Văn N cấp dưỡng nuôi con. Không bên nào được ngăn cản quyền gặp gỡ và chăm sóc con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Đồ Thị Thùy T được ly hôn anh Đỗ Văn N.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 199 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TÂN CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 123/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 11- 4 - 2018
“V/v Ly hôn giữa chị T và anh N”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Ngọc Diệu

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Võ Thị Kim Linh

2. Bà Võ Thị Lan

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Minh Sang là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Bảo Thịnh – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 4 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 390/2017/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2017 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 03 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 91/2018/QĐST-DS ngày 22 tháng 3 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đồ Thị Thùy T, sinh năm 1987 (có mặt).

Nơi cư trú: tổ 09 ấp Vĩnh Tường 1, xã Châu Phong, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

- Bị đơn: Anh Đỗ Văn N; sinh năm 1984 (vắng mặt).

Nơi cư trú: tổ 09 ấp Vĩnh Tường 1, xã Châu Phong, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn ngày 03/11/2017, bản tự khai và lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Đồ Thị Thùy T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đồ Thị Thùy T và anh Đỗ Văn N đi đến hôn nhân vào năm 2014 hôn nhân mai mối, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Mỹ Phú Đông, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, trong quá trình sống chung vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, anh N thường xuyên tham gia những tệ nạn xã hội (đánh bạc) từ đó kinh tế gia đình gặp nhiều khó khăn, cuộc sống chung không hạnh phúc, vợ chồng không còn sống chung từ tháng 10/2017 cho đến nay. Nay chị T yêu cầu được ly hôn với anh N.

Về con chung: Có 01 con chung Đỗ Phúc N, sinh ngày 13/05/2015, hiện nay con chung đang sống với chị T, khi ly hôn chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Anh Đỗ Văn N trình bày: Về điều kiện kết hôn và thời gian kết hôn anh N cũng thống nhất như chị T trình bày, về mâu thuẫn vợ chồng theo anh N trình bày là do anh N gây nợ nần nhiều lần và gia đình bên vợ đã trả nợ thay anh, nhưng anh N cho rằng mâu thuẫn vợ chồng không lớn có thể đoàn tụ được, nên anh không đồng ý ly hôn với chị T.

Về con chung: Có 01 con chung Đỗ Phúc N, sinh ngày 13/05/2015, hiện nay con chung đang sống với chị T, trong trường hợp Tòa án cho ly hôn anh N đồng ý giao con chung cho chị T được tiếp tục nuôi dưỡng, chị T không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Tại phiên tòa chị Đồ Thị Thùy T vẫn giữ nguyên ý kiến đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Chị Đồ Thị Thùy T và anh Đỗ Văn N tranh chấp ly hôn nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, đã tiến hành các thủ tục tố tụng dân sự theo quy định của pháp luật và ông Đỗ Văn N đã nhận các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng ông N vắng mặt không lý do. Do ông N vắng mặt không lý do nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 199 Bộ luật tố tụng dân sự, do đó Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông Đỗ Văn N.

Phát biểu của Kiểm sát viên về tố tụng: Tòa án đã tuân thủ đúng pháp luật về thủ tục theo quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý đến khi giải quyết vụ án. Đối với các đương sự thì thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70; 71; 72; và 234 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82; 83; 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T, cho chị T được ly hôn với anh N, về con chung thì giao con chung cho chị T được tiếp tục nuôi dưỡng.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân của chị Đồ Thị Thùy T và anh Đỗ Văn N kết hôn nhân vào năm 2014 hôn nhân mai mối, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Mỹ Phú Đông, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, trong quá trình sống chung vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, anh N thường xuyên tham gia những tệ nạn xã hội, từ đó dẫn đến kinh tế gia đình gặp nhiều khó khăn, anh N không chăm lo cuộc sống cho gia đình, cuộc sống chung không hạnh phúc. Đây là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật xem xét bảo vệ.

Xét thấy, mặc dù Tòa án đã tiến hành các thủ tục tố tụng dân sự theo quy định để tạo điều kiện cho anh chị hòa giải và hàn gắn, nhưng anh Đỗ Văn N vắng mặt không lý do, tại phiên tòa chị T vẫn yêu cầu được ly hôn với anh N, với những mâu thuẫn nêu trên đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, HĐXX nhận thấy chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T là phù hợp quy định của pháp luật tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: có 01 con chung Đỗ Phúc N, sinh ngày 13/05/2015, hiện nay con chung đang sống với chị T, anh N đồng ý giao con chung cho chị T được tiếp tục nuôi dưỡng, chị T không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy việc thỏa thuận nuôi con chung của anh chị không trái đạo đức xã hội, phù hợp quy định pháp luật, do đó HĐXX giao con chung Đỗ Phúc N cho chị T được tiếp tục nuôi dưỡng.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Về án phí: chị Đồ Thị Thùy T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 2 Điều 227; khoản 4 Điều 147, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82; 83; và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 của N quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đồ Thị Thùy T được ly hôn anh Đỗ Văn N.

2. Về con chung: Chị Đồ Thị Thùy T được tiếp tục nuôi dưỡng con chung Đỗ Phúc N, sinh ngày 13/05/2015, hiện nay con chung đang sống với chị T, chị T không yêu cầu anh Đỗ Văn N cấp dưỡng nuôi con.

Không bên nào được ngăn cản quyền gặp gỡ và chăm sóc con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

4. Về nợ chung: không có.

5. Về án phí: chị Đồ Thị Thùy T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ từ số tiền tạm ứng án phí sang theo biên lai thu số 0001435 ngày 09/11/2017 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Tân Châu.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật thị hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ