vanban.org

Bản án 123/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Hoàng Thị Mỹ H được ly hôn với anh Phạm Quang Th.

Về con chung: Giao con chung Phạm Quang H, sinh ngày 06/9/2014 cho chị Hoàng Thị Mỹ H trực tiếp nuôi dưỡng, giao con chung Phạm Quang H, sinh ngày 12/11/2004 cho anh Phạm Quang Th trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; quyề… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn giữa Hoàng Thị Mỹ H - Phạm Quang Th"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Hoàng Thị Mỹ H được ly hôn với anh Phạm Quang Th.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:123/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 29/11/2018.
V/v: “tranh chấp ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Vân Hồng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Quang Vinh

2. Ông Trương Minh Thọ

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Lan – Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông K’Mích – Kiểm sát viên.

Ngày 29/11/2018, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 533/2018/TLST-HNGĐ ngày 18/10/2018 về “tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2018/QĐXXST - HNGĐ ngày 18/10/2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị Mỹ H, sinh năm 1982

Trú tại: Tổ A, phường B, thành phố C, tỉnh D.

2. Bị đơn: Anh Phạm Quang Th, sinh năm 1981

Trú tại: Tổ A, phường B, thành phố C, tỉnh D.

(Chị H có mặt, anh Th vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại tòa án, nguyên đơn chị Hoàng Thị Mỹ H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Phạm Quang Th lấy nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện B, tỉnh C vào ngày 14/01/2004, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục, tập quán. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến khoảng năm 2010 anh Th ngoại tình, không quan tâm đến vợ con, từ đó trong gia đình thường xuyên xảy ra cãi vã dẫn đến mâu thuẫn, chị nhiều lần bỏ qua cho anh Th vì con cái, gia đình đã nhiều lần hòa giải mâu thuẫn nhưng anh Th vẫn chứng nào tật đó, không sửa đổi, mâu thuẫn trong gia đình ngày càng trầm trọng, hiện nay chị và anh Th đã sống ly thân. Chị xác định cuộc sống chung không hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng hàn gắn nên yêu cầu Tòa giải quyết ly hôn với anh Phạm Quang Th.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Phạm Quang H, sinh ngày 12/11/2004 và Phạm Quang H, sinh ngày 06/9/2014. Hiện cháu H đang sống với anh Th, cháu H đang sống với chị, sau khi ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu H, giao cháu H cho anh Th trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu anh Th phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Tại phiên tòa, chị Hoàng Thị Mỹ H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Bị đơn anh Phạm Quang Th đã được triệu tập hợp lệ tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Th vắng mặt không có lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Tòa án xác định quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết, nguyên đơn, bị đơn và thu thập chứng cứ theo đúng quy định tại các Điều 28, 35, 68, 96 và 97 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71 và 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử chấp hành đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ có đủ cơ sở xác định mâu thuẫn giữa chị Hoàng Thị Mỹ H và anh Phạm Quang Th đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H, xử cho chị H và anh Th được ly hôn, giao con chung Phạm Quang H, sinh ngày 12/11/2004 cho anh Th trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Phạm Quang Huy, sinh ngày 06/9/2014 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Đây là vụ án hôn nhân và gia đình về việc“tranh chấp ly hôn” giữa nguyên đơn chị Hoàng Thị Mỹ H và bị đơn anh Phạm Quang Th theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bị đơn anh Phạm Quang Th đã được triệu tập hợp lệ tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Th vắng mặt không có lý do nên căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Th.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh Th là hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Trong quá trình chung sống giữa chị H và anh Th thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, hai bên đã hòa giải nhiều lần nhưng vẫn không hàn gắn được, chị H và anh Th đã không còn chung sống với nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ anh Th nhưng anh Th không có ý kiến gì về yêu cầu xin ly hôn của chị H cho thấy anh Th không có thiện chí hòa giải, hàn gắn gia đình. Hội đồng xét xử xét thấy vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thuỷ, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình nhưng giữa chị Hoàng Thị Mỹ H và anh Phạm Quang Th mâu thuẫn đã trầm trọng, không còn sự quan tâm và chăm sóc lẫn nhau, đời sống chung không còn tồn tại, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu của chị H được ly hôn với anh Th là phù hợp và đúng pháp luật.

Về con chung: Chị H và anh Th có 02 con chung tên Phạm Quang H, sinh ngày 12/11/2004 và Phạm Quang H, sinh ngày 06/9/2014. Sau khi ly hôn chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu H, giao cháu H cho anh Th nuôi dưỡng. Xét thấy, hiện nay cháu H đang sống với anh Th và có nguyện vọng được ở với anh Th, cháu H đang có cuộc sống ổn định với chị H nên giao cháu Huy cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Hiệp cho anh Th trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp và đúng theo nguyện vọng của con. Chị H không yêu cầu cấp dưỡng nên Tòa án không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có

Về án phí: Chị Hoàng Thị Mỹ H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147 và Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56 và Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Hoàng Thị Mỹ H được ly hôn với anh Phạm Quang Th.

2. Về con chung: Giao con chung Phạm Quang H, sinh ngày 06/9/2014 cho chị Hoàng Thị Mỹ H trực tiếp nuôi dưỡng, giao con chung Phạm Quang H, sinh ngày 12/11/2004 cho anh Phạm Quang Th trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

3. Về án phí: Chị Hoàng Thị Mỹ H phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2016/0008402 ngày 14/8/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, chị Hoàng Thị Mỹ H có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm, anh Phạm Quang Th vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ