vanban.org

Bản án 123/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Áp dụng: khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đỗ Thị Xuân M Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Do Thi Xuan M - Nguyen Van T"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT
TỈNH ĐĂK LĂK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 123/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 18/9/2018
V/v Tranh chấp về hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT

TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải An

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đỗ Xuân Hiếu

2. Bà Trần Thị Thúy Hoa

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thúy Hiền - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột

Ngày 18 tháng 9 năm 2018, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 425/2018/TLST-HNGĐ ngày 31/5/2018, về việc“Tranh chấp về hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 120/2018/QĐST-HNGĐ ngày 17/8/2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị Xuân M - Sinh năm: 1991 (có mặt).

Trú tại: Số xxx thôn x, xã H, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T - Sinh năm: 1981 ( Vắng mặt)

Trú tại: thôn x, xã H, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 17/5/2018, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn chị Đỗ Thị Xuân M trình bày:

Tôi và anh Nguyễn Văn T tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk vào năm 2015. Quá trình chung sống, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do bất đồng quan điểm sống nhiều. Vợ chồng không có sự yêu thương, quan tâm, chăm sóc và tôn trọng lẫn nhau. Chúng tôi cũng đã cố gắng để vợ chồng hàn gắn, đoàn tụ nhưng không được. Chúng tôi đã sống ly thân nhau từ tháng 5/2018 cho đến nay. Nay, tôi nhận thấy không còn tình cảm với anh T nữa nên để nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.

Về con chung: Tôi có 01 con chung là cháu: Nguyễn Thị Thảo N – Sinh ngày: 16/9/2016. Tôi có nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu tòa án giải quyết

* Quá trình giải quyết vụ án, anh Nguyễn Văn T đã được triệu tập hợp lệ nhưng không đến tham gia tố tụng tại Tòa án

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết là “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con”, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp.

Về nội dung: Chị Đỗ Thị Xuân M và anh Nguyễn Văn T tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk vào ngày 23/11/2015 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Quá trình duy trì quan hệ hôn nhân, chị M xác định vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn kéo dài từ đầu năm 2017 cho đến nay và hai bên không giải quyết được. Đồng thời, cả hai đã sống ly thân nhau từ tháng 5/2018 cho đến nay.

Xét mâu thuẫn gia đình giữa chị Đỗ Thị Xuân M và anh Nguyễn Văn T, Hội đồng xét xử nhận thấy: Mặc dù mâu thuẫn gia đình giữa anh, chị địa phương không nắm được. Song trong quá trình giải quyết vụ án, anh Nguyễn Văn T đã được triệu tập hợp lệ nhưng không đến tham gia tố tụng, không có thiện chí trong việc hàn gắn, giải quyết các mâu thuẫn để vợ chồng đoàn tụ. Do đó, mâu thuẫn tình cảm giữa anh, chị là không có cơ sở để hàn gắn, đời sống chung đã không còn được duy trì, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đỗ Thị Xuân M

Về con chung: Chị M và anh T có 01 con chung là cháu: Nguyễn Thị Thảo N – Sinh ngày: 16/9/2016. Xét thấy con chung chưa đủ 36 tháng tuổi và hiện đang do chị Đỗ Thị Xuân M nuôi dưỡng trực tiếp. Do đó cần giao con chung cho chị Đỗ Thị Xuân M trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên là phù hợp khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Về cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung, nợ chung: Chị M không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Nguyên đơn chị Đỗ Thị Xuân M phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

- Áp dụng: khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đỗ Thị Xuân M

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị Xuân M được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.

- Về con chung: Giao con chung là cháu: Nguyễn Thị Thảo N – Sinh ngày: 16/9/2016 cho chị Đỗ Thị Xuân M trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ tuổi thành niên.

Về cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung và nợ chung: các đương sự không yêu cầu, nên không đặt ra giải quyết.

Anh Nguyễn Văn T được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.

- Về án phí: Nguyên đơn chị Đỗ Thị Xuân M phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng mà chị M đã nộp theo biên lại thu số AA/2017/0003904 ngày 24/5/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự Tp.Buôn Ma Thuột

Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ