- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn Bình vi phạm qui định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ - không phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Văn B phạm tội: “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ ”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật hình sự xử phạt; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 260 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THÀNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU Bản án số: 135/2017/HSST Ngày: 15-11-2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THÀNH, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Anh
Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đình Phước
ng Nguyễn Ngọc n
Những người tiến hành tố tụng tại phiên tòa:
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: ng Hu nh Thanh Trà – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: ng Đặng Quang Nam – Kiểm sát viên. [[
Ngày 15 tháng 11 năm 2017, tại tại Trung tâm văn hóa học tập công đồng thị trấn Phú , huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 138/2017/HSST ngày 24/10/2017 đối với bị cáo:
Phạm Văn B, sinh năm 1987, tại Thái Bình; Thường trú: thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; Tạm trú: số D đường B, phường B, thị xã T, tỉnh Bình Dương; Nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hóa: 8/12; Cha: Phạm Ngọc A, m : Trần Thị ; Bị cáo có vợ là Trần Thị Hà P và 01 con sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị b t ngày 18/8/2017 (có mặt).
Bị hại: Ông Lê Khánh P, sinh năm 1961 (Có mặt)
Địa chỉ: X đường Y phường Z, Tp V, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
Bị n dân s : Công ty TNHH DV -VT -TM H
Địa chỉ: Tổ X, Kp T, thị trấn P huyện T, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Người đại diện theo pháp luật: ng Hu nh Quốc T – Giám đốc
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Đoàn Thị Kim P, sinh năm 1973
(Văn bản ủy quyền ngày 30/6/2017) (Ông T - có mặt)
[[
NỘI DUNG V ÁN
Cáo trạng số 139/KSĐT-TA ngày 23/10/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thành truy tố bị cáo Phạm Văn B về hành vi phạm tội như sau:
Phạm Văn B là tài xế lái xe cho Công ty TNHH DV VT TM H. Vào khoảng 09 giờ 30 ngày 14/5/2017, B điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 72C-039.48 kéo sơ mi rơ mooc BS 72R-004.64 lưu thông trên QL 51 hướng từ thị trấn P đi xã T. Khi đến khu vực ngã tư Chin on thuộ khu phố V, thị trấn P, huyện T, Bình điều khiển xe chuyển hướng r phải đi vào khu công nghiệp P, do không chú ý quan sát, nhường đường cho các phương tiện khác đang lưu thông đã gây tai nạn với xe máy BS 63AS-002.44 do ông Lê Khánh P điều khiển lưu thông c ng chiều. Hậu quả ông Lê Khánh P bị thương nặng.
Hiện trường vụ tai nạn giao thông là khu vực ngã tư giao giữa đường QL 51 và đường số 9; mặt đường trải nhựa rộng 14,15m. Chọn lề chuẩn là mép đường bên phải đường số 9, hướng QL51 đi khu công nghiệp P và điểm cố định là cột điện ký hiệu 475/TV/6231/01. Tất cả các dấu vết, phương tiện có tại hiện trường được xác định như sau:
Tại hiện trường phát hiện các dấu vết phương tiện như sau:
Xe ô tô đầu kéo biển số 72C-039.48 kéo sơ mi rơ mooc BS 72R-004.64 sau va chạm dừng trên đường số 9, đầu xe hướng đi khu công nghiệp P, đuôi xe hướng QL 51. Tâm trục bánh xe đầu tiên bên phải đo vào lề là 7,10m; tâm trục bánh xe sau c ng bên phải đo vào lề là 3,65m. e ô tô phanh để lại vết ma sát trên mặt đường; đầu vết phanh bên phải đo vào lề là 2,40m, vết phanh bên trái dài 19,30m, vết phanh bên trái cách hông rơ móc là 1,80m. Bánh xe bên phải đầu tiên xe ô tô đo đến cột điện 475/TV/6231/01 là 13,15m.
Xe mô tô BS 63AS-002.44 ngã phần thân bên phải xuống mặt đường nhựa và n m dưới gầm xe ô tô. Đầu xe quay vào lề chuẩn, đuôi xe quay về hướng lề bên trái. Tâm trục bánh xe trước đo vào lề là 7,10m, tâm trục bánh xe sau đo vào lề là 8,55m. Lốc xe máy đo đến bánh xe trước bên phải đầu tiên xe ô tô là 3,90m. e máy ngã đề lại vết cày, đứt quãng kéo dài từ QL 51 hướng đi đường số 9; đầu vết cày đo vào lề chuẩn là 3,40m, đầu vết cày đo đến lốc máy xe máy là 14,90m.
Kết quả khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn thể hiện:
Xe ô tô 72C-039.48 kéo sơ mi rơ mooc BS 72R-004.64: Trên cản bảo vệ bên phải của sơ mi có nhiều vết ma sát; mặt trong của bánh xe sau c ng, bên trong của xe ô tô có vết ma sát; góc bên phải của cản trước xe ô tô có vết trầy xước.
Xe mô tô BS 63AS-002.44: Đầu xe bị vỡ biến dạng hoàn toàn, hệ thống đ n chiếu sáng, đ n chuyển hướng bị vỡ hoàn toàn; hệ thống giảm sóc phía trước bị gãy; cung ch n b n bánh xe trước bị vỡ hoàn toàn; tay lái bị gãy, biến dạng; đồng hồ báo tốc độ bị vỡ biến dạng hoàn toàn; khung xe bị cong, ốp nhựa hai bên bị vỡ; yên xe bung rời; lốc máy xe bên trái bị vỡ; gác chân, cần số bên trái bị cong, biến dạng; cung ch n b n, hệ thống giảm sóc bị vỡ gãy; hộp bảo vệ xích, biểm kiểm soát bung rời.
Trên mặt đường có để lại vết máu: Vết máu đo vào lề là 4,90m; đo đến lốc máy xe máy là 3,90m
Khu vực va chạm được xác định như sau: Đo vào lề là 3,60m, đo đến đầu vết cày xe máy là 1,15m.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 166/TgT ngày 15/6/2017 của Trung tâm pháp y, S y tế tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu kết luận:
1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- V ng đầu mặt hiện không còn dấu vết thương tích .
- Chân phải: dập nát đứt gần lìa đầu dưới đ i phải, gãy mất lồi cầu đ i phải và gãy nát mất đoạn 1/3 giữa c ng chân phải, đã ph u thuật tạo mỏm cụt 1/3 dưới đ i phải, hiện mỏm cụt còn viêm rỉ dịch vàng.
2. Về vật gây thương tích và cơ chế hình thành vết thương: Thương tích dập nát đứt gần lìa dưới đ i phải của nạn nhân ph hợp được gây ra khi v ng đ i phải của nạn nhân bị ch n đ giữa hai vật r n tầy, lực tác động rất mạnh.
3. T lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra hiện tại của ông Lê Khánh P là 65 . (BL: 61, 62, 63, 64).
Kết quả điều tra xác định nguyên nhân gây tai nạn giao thông là do l i của Phạm Văn B điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 72C-039.48 kéo sơ mi rơ mooc BS 72R-004.64 chuyển hướng r phải không đảm bảo an toàn đễn đến tai nạn giao thông với xe mô tô BS 63AS-002.44 do ông Lê Khánh P điều khiển, vi phạm Điều 15 Luật giao thông đường bộ, hậu quả làm ông P bị thương tật t lệ 65 .
Về xử lý vật chứng: Theo quyết định xử lý vật chứng số 64/QĐ ngày 11/7/2017 Cơ quan CSĐT Công an huyện Tân Thành đã trả lại chiếc xe ô tô đầu kéo biển số 72C-039.48 kéo sơ mi rơ mooc BS 72R-004.64 cho Công ty TNHH DV VT TM H. Đối với chiếc xe mô tô BS 63AS-002.44 đã chuyển cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Thành bảo quản chờ xử lý.
Về bồi thường thiệt hại: Công ty TNHH DV VT TM H đã bồi thường cho ông Lê Khánh P số tiền 72.000.000 đồng. Nay tại tòa ông P yêu cầu bị cáo Phạm Văn B bồi thường thêm số tiền 40.000.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số: 139/KSĐT-TA ngày 23/10/2017 Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã truy tố Phạm Văn B về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 202 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa h m nay, trên c s việc t h i và tranh lu n gi a nh ng ngư i tham gia t t ng c ng khai, dân chủ và kh ng bị hạn ch :
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát trong phần tranh luận đã giữ nguyên quyết định truy tố Phạm Văn B về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 202 của Bộ luật hình sự; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 09 đến 12 tháng t ; về trách nhiệm dân sự: Phía Công ty H đã bồi thường cho bị hại số tiền 72 triệu đồng, nay bị hại tiếp tục yêu cầu bị cáo Phạm Văn B bồi thường thêm các khoản với tổng số tiền 40 triệu đồng. Tại tòa bị cáo đồng ý bồi thường nên công nhận sự thỏa thuận trên; về xử lý vật chứng: trả lại cho ông Lê Khánh P chiếc xe mô tô BS 63AS-002.44.
Tại tòa bị cáo Phạm Văn B thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không có lời tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, mức hình phạt. Bị cáo chỉ đề đạt Hội đồng xét xử xem xét giảm nh hình phạt.
Người bị hại có ý kiến đề đạt Hội đồng xét xử xem xét giảm nh hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ s xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo.
NH N ĐỊNH CỦA HỘI Đ NG X T X
Trên c s nội dung v án, c n c vào các tài liệu c trong h s và
ư c thẩm tra, t h i, tranh lu n tại phiên tòa, Hội ng t nh n th y:
1 Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Thành, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời nhận tội của bị cáo Phạm Văn B tại phiên tòa ph hợp với sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các chứng cứ khác, từ đó đủ cơ s kết luận: Vào khoảng 09 giờ 30 ngày 14/5/2017 tại giao lộ giữa QL 51 và đường số 9 tại thị trấn P, huyện T, bị cáo Phạm Văn B điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 72C-039.48 kéo sơ mi rơ mooc BS 72R-004.64 khi cho xe chuyển hướng r phải để đi vào Khu công nghiệp P. Do không chú ý quan sát k và nhường đường, không đảm bảo an toàn, không giảm tốc độ nên đã va chạm với xe mô tô do ông Lê Khánh P điều khiển c ng chiều, hậu quả ông P bị thương tích t lệ 65 . Hành vi của bị cáo đã vi phạm Điều 15 Luật giao thông đường bộ, gây thương tích cho 01 người đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của người khác. Bị cáo là người có giấy phép lái xe ph hợp, điều khiển xe ô tô là nguồn nguy hiểm cao độ lưu thông trên đường khi cho xe chuyển hướng qua phải đã không tuân thủ tuyệt đối nguyên t c an toàn giao thông, bất cẩn chủ quan, quan sát không k nên đã không nhường đường cho xe mô tô của ông Lê Khánh P đang lưu thông c ng chiều phía sau d n đến tai nạn, l i hoàn toàn của bị cáo. Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thành truy tố bị cáo Phạm Văn B về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Tuy nhiên, do diễn biến của pháp luật thì tội phạm của Phạm Văn B tương ứng với điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015. Căn cứ vào Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009); Bộ luật hình sự năm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội và Công văn 276/TANDTC-PC ngày 13/9/2016 của Tòa án nhân dân Tối cao về việc hướng d n áp dụng một số quy định có lợi cho người phạm tội của Bộ luật hình sự năm 2015 thì tội phạm của bị cáo Phạm Văn B được áp dụng theo điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 là có lợi hơn cho bị cáo.
Tòa án cần áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nh m giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Khi lượng hình có xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nh cho bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nh : Bị cáo có nhân thân tốt chưa tiền án tiền sự, là thành phần lao động; tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu với l i vô ý; sau khi xảy ra tai nạn đã thăm hỏi gia đình bị hại; Tại tòa bị cáo đã đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền 40 triệu đồng, bị hại đề nghị giảm nh hình phạt cho bị cáo; nên được hư ng các tình tiết giảm nh theo điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự.
[3] Về bồi thường thiệt hại:
Tại tòa bị hại là ông Lê Khánh P yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm số tiền 40.000.000 đồng. Bị cáo Phạm Văn B đồng ý bồi thường toàn bộ số tiền trên nên Hội đồng xét xử ghi nhận
[4] Về xử lý vật chứng:
Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe ô tô đầu kéo biển số 72C-039.48 kéo sơ mi rơ mooc BS 72R-004.64 cho Công ty TNHH DV VT TM H, đại diện của Công ty đã nhận lại xe.
- Đối với xe mô tô BS 63AS-002.44, về nguồn gốc xe đứng tên bà Hu nh Thị Đ (địa chỉ: ấp X, xã T, Tp M, Tiền Giang). Quá trình điều tra bà Để thừa nhận vào năm 2014 đã bán chiếc xe trên, nay không có yêu cầu gì thêm. ng Lê Khánh P thừa nhận mình là người mua xe của bà Đ nhưng chưa làm thủ tục sang tên theo quy định và sử dụng đến thời điểm xảy ra tai nạn. Vì vậy, xác định chủ s hữu chiếc xe trên hiện nay là ông Lê Khánh P, nên cần trả lại tài sản trên cho chủ s hữu là ph hợp với quy định của pháp luật.
5 Bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của y ban Thường vụ Quốc hội.
6 Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[ [
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn B phạm tội: “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ ”.
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999.
ử phạt bị cáo Phạm Văn B 01 ( ột) năm t , thời hạn chấp hành hình phạt t tính từ ngày 18/8/2017.
- Về bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 42 Bộ luật hình sự; Điều 585, Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015. Công nhận sự thỏa thuận giữa các đương sự như sau:
Bị cáo Phạm Văn B bồi thường cho ông Lê Khánh P số tiền 40.000.000 (Bốn mươi triệu) đồng.
Kể t ngày ngư i ư c thi hành án c
n yêu c u thi hành án, n u ngư i phải thi hành án kh ng hoàn trả s ti n nêu trên th hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả cho bên ư c thi hành án khoản ti n l i của s ti n còn phải thi hành án theo m c l i su t quy ịnh tại khoản 2 Đi u 468 Bộ lu t dân s n m 2015 tư ng ng v i th i gian chưa thi hành án.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự. Trả lại cho ông Lê Khánh P 01 xe mô tô biển số 63AS-002.44. (Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa VKSND huyện và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Thành).
2. Về án phí: Bị cáo Phạm Văn B phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 2.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
“Trư ng h p quy t ịnh ư c thi hành theo quy ịnh tại Đi u 2 Lu t thi hành án dân s th ngư i ư c thi hành án dân s , ngư i phải thi hành án dân s c quy n th a thu n thi hành án, quy n yêu c u thi hành án, t nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng ch thi hành án theo quy ịnh tại các Đi u 6, 7, 7a, 7b và Đi u 9 Lu t thi hành án dân s ; th i hiệu thi hành án ư c th c hiện theo quy ịnh tại Đi u 30 Lu t thi hành án dân s ”.
3. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, bị hại, bị đơn dân sự, được quyền kháng cáo bản án yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. (Người v ng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết) ./.
TM. HỘI Đ NG X T X SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; VKSND tỉnh BRVT; - VKSND huyện Tân Thành; - Công an huyện Tân Thành: 02 - Phòng PV 27 Công an tỉnh BRVT; - THADS huyện Tân Thành; - S Tư pháp tỉnh BR-VT; - Bị cáo; người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. | (đã ký) Lê Hoàng Anh |