vanban.org

Bản án 1229/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đào Minh D ly hôn với Tăng Văn Q"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CỦ CHI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 1229/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 12-9-2023
V/v Tranh chấp Ly hôn.

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Ngọc.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phạm Thị Ngọc.

2. Bà Nguyễn Phước Trinh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Đức – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi tham gia phiên tòa: Không có.

Ngày 12 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 748/2023/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2023 về “Tranh chấp Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 748/2023/QĐST-HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 313/2023/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Đào Minh D, sinh năm 1992. (có mặt)

Địa chỉ: Số A, Tổ A, ấp A, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ liên lạc: Ấp C, xã T, huyện M, tỉnh Long An.

Bị đơn: Ông Tăng Văn Q, sinh năm: 1988. (vắng mặt)

Địa chỉ: Số B Đường B, Tổ A, ấp A, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 29/5/2023 và các lời khai tại Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, nguyên đơn bà Đào Minh D trình bày:

Tôi và ông Tăng Văn Q là vợ chồng tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 94, quyển số: 01/2023 ngày 16/10/2013. Thời gian đầu cuộc sống gia đình hạnh phúc nhưng về sau chúng tôi thường xuyên gây gỗ, chồng tôi ghen tuông vô cớ, đánh đập tôi. Sau nhiều lần hòa giải không thành, nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, tôi yêu cầu được ly hôn với ông Tăng Văn Q.

Về con chung có 01 (một) con tên: Tăng Bảo N, sinh ngày 21/9/2012. Tôi yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 01 (một) con chung, không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Tôi tự nguyện chịu toàn bộ.

* Bị đơn ông Tăng Văn Q vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Quan hệ tranh chấp giữa bà Đào Minh D và ông Tăng Văn Q là “Tranh chấp Hôn nhân và Gia đình”. Bị đơn trong vụ án là ông Tăng Văn Q cư trú tại huyện C, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi.

Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn ông Tăng Văn Q đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Q theo quy định của pháp luật.

Về quan hệ hôn nhân:

Xét về quan hệ vợ chồng giữa bà Đào Minh D và ông Tăng Văn Q có đăng ký kết hôn và được UBND xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận kết hôn số: 94, quyển số 01/2013 ngày 16/10/2013, đây là hôn nhân hợp pháp.

Bà D nêu quá trình sống chung lúc đầu có hạnh phúc, nhưng sau đó không hạnh phúc. Nguyên nhân do không hợp nhau về tính tình, quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên gây gỗ, chồng ghen tuông vô cớ, đánh đập. Sau nhiều lần hòa giải không thành, bà D nhận thấy nhận thấy tình cảm không còn, đời sống hôn nhân không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn với ông Q.

Xét trong quá trình giải quyết vụ án ông Tăng Văn Q không đến Tòa án để giải quyết và không có bất cứ tác động nào cho thấy muốn hàn gắn quan hệ gia đình với bà D nên Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu xin ly hôn với ông Q của bà D là chính đáng. Căn cứ Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà D.

Về con chung có 01 (một) con tên: Tăng Bảo N, sinh ngày 21/9/2012. Bà D yêu cầu nuôi con chung tên Tăng Bảo N và bà D không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con.

Hội đồng xét xử xét thấy bà D đang trực tiếp chăm sóc và sống ổn định với trẻ N. Để ổn định tâm sinh lý của trẻ Tăng Bảo N, căn cứ Điều 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nghĩ nên giao trẻ Tăng Bảo N cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng là đúng, tạm ngừng cấp dưỡng nuôi con đối với ông Q cho đến khi bà D có yêu cầu.

Về tài sản chung: Bà D xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nghĩa vụ dân sự chung: Bà D xác định không có.

Về nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm: Án phí Hôn nhân sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) bà D chịu.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ Luật Phí và lệ phí năm 2015 và Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

1. Chấp nhận yêu cầu của bà Đào Minh D là được ly hôn với ông Tăng Văn Q.

Giấy chứng nhận kết hôn số: 94, quyển số 01/2013 ngày 16/10/2013 UBND xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Đào Minh D và ông Tăng Văn Q không còn giá trị pháp lý.

2. Về con chung có 01 (một) con tên: Tăng Bảo N, sinh ngày 21/9/2012. Giao con chung tên Tăng Bảo N cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà D không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con.

Vì lợi ích của con chung, bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến quyền này. Khi cần thiết một hoặc cả hai bên có thể yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc quyết định mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Tài sản chung: Bà D không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Nợ chung: Bà D xác định không có.

5. Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) bà Đào Minh D chịu, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số: AA/2023/0017681 ngày 16/6/2023 của Chi Cục thi hành án Dân sự huyện Củ Chi. Bà D đã nộp đủ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ