- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Xuân X - Phạm Thị Phương L"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Xuân X, giữ nguyên bản án sơ thẩm;
- Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 1222/2017/HNGĐ-PT Ngày: 28/12/2017 V/v “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Nhung
Các Thẩm phán:
1/ Bà Châu Thị Điệp
2/ Bà Đặng Thị Bích Loan
- Thư ký phiên toà: Bà Tăng Thị Hồng Thanh – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mộng Linh – Kiểm sát viên.
Ngày 28/12/2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 144/2017/TLPT-HNGĐ ngày 09/11/2017 về việc “Tranh chấp ly hôn”;
Do bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 1211/2017/HNGĐ-ST ngày 29/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2935/2017/QĐ-PT ngày 06/12/2017 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Xuân X, sinh năm 1988
Địa chỉ thường trú: số 7 đường 789,tổ 2, ấp Xóm Thuốc, xã An Phú, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tạm trú: 346/20/14 Chu Văn An, phường 12, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Phạm Văn Liêm – Luật sư Văn phòng Luật sư Quang Liêm thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Bà Phạm Thị Phương L, sinh năm 1989. Địa chỉ: số 7 đường 789,tổ 2, ấp Xóm Thuốc, xã An Phú, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. Người kháng cáo: ông Nguyễn Xuân X là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tóm tắt nội dung và quyết định của bản án sơ thẩm: Trong đơn khởi kiện ngày 23/6/2017 và lời khai tại phiên tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Xuân X trình bày: Ông và bà Phạm Thị Phương L tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn và được UBND xã An Phú, huyện Củ Chi cấp giấy chứng nhận kết hôn số 42, quyển số 01/2012 ngày 23/5/2012. Sau đó, vì tính chất công việc nên vợ chồng ông dọn xuống Quận 12 để ở trọ. Đến cuối năm 2013 thì vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn liên quan đến công việc, sinh hoạt gia đình và tiền bạc nên thường xuyên xảy ra cãi vã, xô xát nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn như trước. Cuối năm 2015, ông nhận thấy không còn tình cảm với vợ và muốn ổn định tinh thần, công việc nên dọn đi nơi khác ở. Hiện tại vợ chồng đều ở riêng và ít liên lạc với nhau. Ông cảm thấy đã quen với việc sống riêng và không muốn cả hai ràng buộc nhau nên ông quyết định ly hôn. Về con chung: Có 02 người con chung, tên là Nguyễn Phạm Thanh Ngân, sinh ngày 28/11/2012 và Nguyễn Phạm Phương Hằng, sinh ngày 13/02/2016. Hiện tại, bà Ly và 02 người con chung sống chung nhà với cha mẹ ông tại xã An Phú, huyện Củ Chi. Khi ly hôn, ông muốn trực tiếp nuôi trẻ Ngân, bà Ly nuôi trẻ Hằng. Trường hợp bà Ly muốn nuôi cả 02 người con chung thì ông cấp dưỡng nuôi 02 con mỗi tháng 5.000.000đồng. Về tài sản chung và nghĩa vụ dân sự chung: không có. Bị đơn bà Phạm Thị Phương L trình bày: Bà và ông Nguyễn Xuân X kết hôn năm 2012, có đăng ký kết hôn tại UBND xã An Phú, huyện Củ Chi. Sau khi kết hôn, vợ chồng bà sống tại nhà dì ruột ở Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh. Quá trình chung sống, vợ chồng không có xảy ra mâu thuẫn gì, chỉ cãi nhau một vài chuyện nhỏ, chủ yếu do bà ghen tuông. Bà không đồng ý ly hôn vì bà còn tình cảm với ông Xanh rất nhiều. Các con cũng còn quá nhỏ nên ly hôn sẽ ảnh hưởng không tốt cho sự phát triển của con. Về con chung: xác nhận vợ chồng có 02 người con chung, tên là Nguyễn Phạm Thanh Ngân, sinh ngày 28/11/2012 và Nguyễn Phạm Phương Hằng, sinh ngày 13/02/2016. Hiện tại, bà và 02 người con đang sống chung nhà với cha mẹ chồng tại xã An Phú, huyện Củ Chi.
Về tài sản chung và nợ chung: không có
Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 1211/2017/HNGĐ-ST ngày 29/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi đã tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Xuân X xin ly hôn bà Phạm Thị Phương L.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của đương sự.
Ngày 29/9/2017, ông Nguyễn Xuân X có đơn kháng cáo bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 1211/2017/HNGĐ-ST ngày 29/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn ông Nguyễn Xuân X vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, cho rằng trong quá trình chung sống có nhiều bất đồng quan điểm, tình cảm vợ chồng không còn, đã ly thân gần 02 năm nên yêu cầu Hội đồng xét xử giải quyết cho ông được ly hôn. Nếu ly hôn ông đồng ý giao 02 người con chung cho bà Ly trực tiếp nuôi dưỡng, ông cấp dưỡng nuôi mỗi người con 2.500.000đồng/tháng. Trường hợp bà Ly không đồng ý thì mỗi bên nuôi một người con, ông nuôi người con nào cũng được và cấp dưỡng cho người con bà Ly nuôi mỗi tháng 3.000.000đồng. Tài sản chung và nợ chung: không có.
Bị đơn bà Phạm Thị Phương L xác nhận trong cuộc sống chung vợ chồng bà có nóng tính vì trong lúc mang thai chồng đi chơi bỏ bê gia đình nên vợ chồng phát sinh cải vã nhưng bà vẫn rất yêu thương chồng, sẽ sửa đổi tính tình để vợ chồng hàn gắn tình cảm, cùng nhau xây dựng hôn nhân hạnh phúc, nuôi dạy con chung trưởng thành chứ không đồng ý ly hôn. Nếu Hội đồng xét xử giải quyết ly hôn thì bà sẽ trực tiếp nuôi dưỡng cả hai người con chung, yêu cầu ông Xanh cấp dưỡng nuôi 02 người con mỗi tháng 10.000.000đồng. Tài sản chung và nợ chung: xác nhận không có.
Ý kiến người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: mâu thuẫn giữa ông Xanh và bà Ly đã trầm trọng do tính cách không hòa hợp. Ông Xanh không còn tình cảm với vợ, bà Ly chỉ đưa ra lý do vì 02 người con còn nhỏ chứ không vì tình cảm. Luật Hôn nhân và gia đình quy định một cuộc hôn nhân hạnh phúc dựa trên cơ sở tình yêu thương và trách nhiệm nhưng cuộc hôn nhân của ông Xanh và bà Ly không còn điều đó. Việc Tòa án sơ thẩm bác đơn để đôi bên về đoàn tụ là không đúng thực tế, hai bên sống ly thân đã lâu, đã quen với cuộc sống riêng, con cái có sự hỗ trợ của ông bà nội, bà Ly thỉnh thoảng về thăm con. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khách quan giải thoát cuộc hôn nhân giữa đôi bên. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau: Về hình thức: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của tố tụng dân sự về thụ lý vụ án, thời hạn chuẩn bị xét xử, thời hạn chuyển hồ sơ cho Viện Kiểm sát nghiên cứu và thủ tục tại phiên tòa. Người tham gia tố tụng đúng, chấp hành đúng nội quy phiên tòa. Về nội dung kháng cáo: ông Xanh và bà Ly có thời gian tìm hiểu, tự nguyện kết hôn. Sự lựa chọn của các bên đã có thời gian suy nghĩ. Tuy cuộc hôn nhân có phát sinh mâu thuẫn nhưng cần phải có chia sẻ động viên nhau vì tương lai của con và hạnh phúc gia đình, không nên vì tự ái và nhưng mâu thuẫn trong cuộc sống mà ly hôn. Mặc khác, mâu thuẫn giữa đôi bên chỉ là từ lời khai của nguyên đơn không có tài liệu chứng minh. Cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của ông Xanh là có căn cứ. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử y án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định: Về hình thức: Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Xuân X làm trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định tại Điều 272; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; đương sự có kháng cáo đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm. Xét kháng cáo của ông Nguyễn Xuân X, Hội đồng xét xử nhận thấy: Ông Xanh và bà Phạm Thị Phương L tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 2012, có làm thủ tục đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 42 quyển số 01/2012 tại Ủy ban nhân dân xã An Phú, huyện Củ Chi ngày 23/5/2012. Như vậy hôn nhân giữa ông bà là hợp pháp. Ngày 26/6/2017, ông Xanh nộp đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân huyện Củ Chi yêu cầu được giải quyết ly hôn bà Phạm Thị Phương L. Tòa án nhân dân huyện Củ Chi đã tiến hành hòa giải nhưng không thành do bà Ly không đồng ý ly hôn. Theo lời khai ông Xanh thì mâu thuẫn vợ chồng liên quan đến công việc, sinh hoạt gia đình và tiền bạc, thường xuyên xảy ra cãi vã, xô xát nhau. Từ đó tình cảm vợ chồng lạnh nhạt, kéo dài đến cuối năm 2015 thì ông dọn đi nơi khác ở, vợ chồng ít liên lạc nhau. Hiện tại ông đã quen với cuộc sống như vậy và cảm thấy không muốn ràng buộc nhau nên ông yêu cầu được ly hôn bà Ly. Ý kiến bà Ly cho rằng cuộc sống chung giữa vợ chồng không xảy ra mâu thuẫn gì trầm trọng. Thỉnh thoảng vợ chồng có cãi vã nhau chủ yếu là do bà nóng tính và nghi ngờ ghen tuông, bản thân bà vẫn còn yêu thương chồng, bà hứa sẽ sửa đổi tính tình, hàn gắn tình cảm để vợ chồng hạnh phúc hơn chứ không đồng ý ly hôn.
Quá trình Tòa án thu thập chứng cứ, phía nguyên đơn là ông Xanh không cung cấp được chứng cứ chứng minh bà Ly vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào mức độ mâu thuẫn, mục đích của hôn nhân không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Xuân X về việc ly hôn bà Phạm Thị Phương L là đã xem xét toàn diện trên cơ sở thực tế và pháp luật. Xét, đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa là có căn cứ pháp luật. Do đó, cấp phúc thẩm không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của ông Xanh và ý kiến của Luật sư bảo vệ quyền lợi cho ông Xanh yêu cầu được ly hôn bà Ly, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Do không chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Xuân X nên về con chung, tài sản chung và nợ chung Hội đồng xét xử không xem xét.
Án phí dân sự sơ thẩm ông Nguyễn Xuân X phải chịu.
Án phí dân sự phúc thẩm ông Nguyễn Xuân X phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Luật phí và lệ phí ;
Căn cứ Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 ;
Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Xuân X, giữ nguyên bản án sơ thẩm;
1. Về quan hệ hôn nhân: Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Xuân X về việc ly hôn bà Phạm Thị Phương L.
2. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng ông Nguyễn Xuân X phải chịu, cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng ông Xanh đã nộp tại Biên lai thu số 0007037 ngày 20/7/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Xanh đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
Án phí hôn nhân phúc thẩm: 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng ông Nguyễn Xuân X phải chịu, cấn trừ tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng ông Xanh đã nộp tại Biên lai thu tiền số 0007242 ngày 29/9/2017 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Xanh đã nộp đủ án phí phúc thẩm. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN
THẨM PHÁN
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- Tòa án nhân dân cấp cao tại TPHCM;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại TPHCM;
- Viện Kiểm sát nhân dân TPHCM;
- Toà án nhân dân huyện Củ Chi;
- Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi;
- Đương sự;
- Lưu.
Trần Thị Nhung
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN
THẨM PHÁN
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- Tòa án nhân dân tối cao;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Tòa án nhân dân cấp cao tại TPHCM;
- Viện Kiểm sát nhân dân TPHCM;
- Toà án nhân dân quận Tân Bình;
- Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình;
- Ủy ban nhân dân thị trấn Ngãi Giao, Châu Đức, Bà Rịa – Vũng Tàu;
- Đương sự;
- Lưu.
Trần Thị Nhung
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - Tòa án nhân dân cấp cao tại TPHCM; - Viện Kiểm sát nhân dân TPHCM; - Toà án nhân dân Quận 3; - Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình; - Ủy ban nhân dân Phường 13, quận Tân Bình, TPHCM; - Đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Nhung |