vanban.org

Bản án 122/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 28/04/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Tuyên bố bị cáo Trần Tuấn D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2/ Xử phạt bị cáo Trần Tuấn D 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm. Thời gian được tính kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 28 tháng 4 năm 2026). Giao bị cáo Trần Tuấn D cho Ủy ban nhân dân phường P, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Tuấn D phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa…"
  • Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố bị cáo Trần Tuấn D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 - NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 122/2026/HS-ST
Ngày 28 - 4 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Đức Đông và bà Đoàn Thị Huệ.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Tấn Dũng - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Ngô Đức Đạt - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 108/2026/TLST - HS ngày 10 tháng 4 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 121/2026/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2026, đối với bị cáo:

Trần Tuấn D, sinh năm 1996; nơi cư trú: Tổ C, phường P, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Viên chức; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Đảng, đoàn thể: Không; con ông Trần Mộng D1 và bà Hoàng Thị Kim O; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ, tạm giam: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 16/11/2025 đến nay; có mặt.

* Bị hại: Anh Nguyễn Hoàng Nhật M, sinh năm 2004 (đã chết).

- Đại diện theo pháp luật:

+ Bà Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1975; vắng mặt.

+ Anh Nguyễn Minh H, sinh năm 1996; vắng mặt.

Đều ở địa chỉ: Tổ A, phường P, tỉnh Ninh Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 29/7/2025, Trần Tuấn D có giấy phép lái xe hạng B1, sau khi uống bia ở quán Đ trên đường L thuộc phường P, tỉnh Ninh Bình, D điều khiển xe ô tô biển kiểm soát (viết tắt là BKS) 90C-146.19 đi đón bạn ở đường H thuộc tổ dân phố Đ, phường H, tỉnh Ninh Bình. D điều khiển xe ô tô đi trên đường Đ hướng cầu L đi siêu thị G, đến ngã tư giao nhau giữa đường Đ với phố Hoàng Thế T1 và phố Lương Văn C, đèn tín hiệu giao thông đang hiển thị màu xanh nên D bật xi nhan bên trái rồi điều khiển xe chuyển hướng rẽ trái để đi vào phố H. Khi xe ô tô rẽ sang chiều đường hướng từ siêu thị G thì D nhìn thấy từ phía bên phải có xe mô tô BKS 90B2-722.40 do anh Nguyễn Hoàng Nhật M điều khiển đi hướng từ siêu thị G. D không dừng lại mà tiếp tục điều khiển xe ô tô đi dẫn đến phần đầu bên phải của xe ô tô BKS 90C-146.19 do D điều khiển đâm va vào đầu xe mô tô BKS 90B2-722.40 do anh M điều khiển, anh M bị hất lên nắp ca bô và đập phần đầu vào kính chắn gió phía trước rồi rơi xuống đường, xe mô tô bị đổ xuống đường. Hậu quả, anh M bị thương được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Đ1, đến ngày 13/8/2025 thì tử vong, xe ô tô và xe mô tô bị hư hỏng.

* Vật chứng, tài sản thu giữ gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số: 90B2-722.40; 01 xe ô tô nhãn hiệu VINFAST VF3 biển số: 90C-146.19; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường xe cơ giới; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô; 01 Giấy biên nhận thế chấp và bản sao chứng nhận đăng ký xe ô tô số 90 005446 của ngân hàng N1 - Chi nhánh L, P1; 01 Giấy phép lái xe hạng B1 mang tên Trần Tuấn D; 01 thẻ nhớ màu xanh-đen ghi chữ Lexar.

* Kết quả khám nghiệm hiện trường (những dấu vết chính):

Hiện trường nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông tại ngã tư giao giữa đường Đ với phố Hoàng Thế T1 và phố Lương Văn C. Mặt đường Điện Biên P là đường đôi, phân cách với nhau bằng dải phân cách cố định bó vỉa bê tông. Mặt đường phố Hoàng Thế T1 được chia thành hai chiều đường phân cách bằng vạch tim đường.

Ký hiệu (1): Xe mô tô biển số 90B2- 722.40 đổ nằm nghiêng bên trái trên mặt đường Đ trong khu vực nút giao và chếch chéo về phía Trung tâm thương mại G1.

Ký hiệu (2): Vết trầy xước dài 0,52m, rộng 0,01m trên mặt đường Đ trong khu vực nút giao, vết có hướng từ phía cầu L về Trung tâm thương mại Go Hà N và chếch chéo sang trái về phía phố H.

Ký hiệu (3): Diện dầu máy và các mảnh nhựa vỡ kích thước trên diện (3,14 x 1,51)m trên mặt đường Đ trong khu vực nút giao, bắt đầu từ vị trí đầu ngoài để chân chính bên trái xe mô tô (1) tì trên mặt đường và trải dài về phía đường chuẩn, điểm gần nhất của vết cách đường chuẩn là 3,50m.

Ký hiệu (4): Vết máu có kích thước (0,39 x 0,16)m trên mặt đường Đ trong khu vực nút giao với phố Hoàng Thế T1 và phố Lương Văn C.

Ký hiệu (5): Vết trượt sạt bám dính chất màu đen dài 21,80m, rộng nhất là 0,30m trên mặt đường Đ và mặt phố Hoàng Thế T1, vết lượn cong từ phía đường Đ về phía phố H.

Ký hiệu (6): Xe ô tô biển số 90C- 146.19 đỗ trên mặt đường phố Hoàng Thế T1, đầu xe hướng về phía đường L trên mặt chiều đường hướng từ đường Đ về đường L.

* Kết quả khám nghiệm phương tiện (những dấu vết chính):

- Xe ôtô nhãn hiệu Vinfast VF3 biển số: 90C-146.19:

Chắn bùn gầm xe phía trước bên phải bị bật ra khỏi vị trí bắt tạo khe hở rộng nhất 07cm, có xu hướng bị đẩy về trước, sang trái. Tai xe trước phải và phần ốp rè chắn bùn phải phía dưới liền kề để lại nhiều vết trầy sạt trên diện (56 x 36) cm. Bánh trước bên phải rơ tuyn bánh này bị gãy làm phần phía trước bánh này bị đẩy, xoay vào trong, sang trái. Má ngoài lốp bánh trước này để lại vết trượt sạt xung quanh lốp có hướng từ tâm trục ra mặt lăn và chếch ngược chiều tiến bánh xe, chỗ rộng nhất là 11,5cm. Lốp bánh trước xẹp hết hơi do vị trí tiếp giáp cạnh lốp và la giăng bị tách hở, ốp la giăng bánh này bị bật ra khỏi vị trí bắt, rơi khỏi xe. Tại vị trí cách chân van 23,5 (ngược chiều tiến bánh xe) mặt ngoài la giăng bị trầy, mất kim loại kích thước (1,7 x 1,7)cm, vết có hướng từ tâm trục ra mặt lăn và chếch theo chiều tiến bánh xe. Kính chắn gió phía trước phần bên phải bị nứt vỡ hình mạng nhện đồng thời đẩy về sau kích thước (80 x 58)cm. Gương chiếu hậu bên phải, phần mặt ngoài của gáo gương để lại vết chùi bụi kích thước (11x 17)cm. Mặt trên của nắp cabô để lại vết trượt, mất bụi kích thước (50 x 10)cm, gần nhất cách cạnh bên phải 20cm, cách cạnh sau 16cm.

- Xe môtô nhãn hiệu Honda Wave α, màu sơn trắng, biển số: 90B2 -722.40:

Chắn bùn bánh trước phần phía trước, phía trên để lại vết trượt xước nhựa hướng từ trước về sau kích thước (29 x 28 x18)cm. Mặt lăn lốp bánh trước để lại vết trượt sạt kích thước (56 x 7)cm, vết hướng ngược chiều tiến bánh xe. Đầu vết tương ứng với vị trí chữ “N” trong cụm chữ “INOUE”. Hai càng trước có xu hướng bị đẩy lệch về sau sang trái làm cho chắn bùn trước phần phía sau tì ép vào mặt lăn lốp và đầu bò lốc máy. Đầu bên trái trục bánh trước, phần phía trước bị trầy sạt, bám dính mạt kim loại kích thước (1,6 x 1,3)cm. Tay kéo phanh trước bằng kim loại phần đầu phía dưới bị sạt, cong, đẩy sang phải. Mặt nạ của xe bị bật ra khỏi vị trí bắt, rơi khỏi xe, phần khung kim loại bắt mặt nạ này, phần phía trước bị đẩy ép về sau, lệch sang bên trái, mặt ngoài phía trước để lại vết trượt còn bám dính chất màu trắng kích thước (9,5 x 6)cm. Cánh yếm và thân cánh yếm phải, phía trên bị vỡ, tách nhựa có xu hướng đẩy về sau, sang phải trên diện (23 x 20)cm.

Kết quả đo nồng độ cồn vào lúc 01 giờ 09 phút 14 giây ngày 30/7/2025 đối với Trần Tuấn D là 0,300mg/L; kết quả xét nghiệm ma túy: Âm tính.

Kết quả xét nghiệm nồng độ cồn lúc 00 giờ 21 phút ngày 30/7/2025 đối với Nguyễn Hoàng Nhật M là: 8,3mg/dl nhỏ hơn khoảng tham chiếu là 34mg/dl.

Tại bản Kết luận giám định tử thi qua hồ sơ số 43/KLTTHS-PYQG ngày 31/10/2025 của V kết luận: “Qua nghiên cứu hồ sơ, bệnh án do Cơ quan trưng cầu cung cấp nhận định nguyên nhân tử vong của Nguyễn Hoàng Nhật M là: Sốc nhiễm khuẩn, phù não nặng, suy hô hấp hậu quả của điều trị chấn thương sọ não nặng, gãy xương đùi trái, gãy xương sườn 7, 8, 9 bên trái, gãy gai ngang cột sống 1, 2, 3 trái không đáp ứng điều trị”.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 07/KLĐG-HĐ/2025 ngày 31/10/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự phường H kết luận: “01 xe mô tô biển số 90B2-722.40 thời điểm định giá ngày 29/7/2025 giá 3.340.000 đồng. 01 xe ô tô biển số 90C-146.19 thời điểm định giá tài sản ngày 29/7/2025 giá 15.710.000 đồng”.

Cơ quan điều tra đã khai thác dữ liệu video trong 01 thẻ nhớ màu xanh-đen ghi chữ Lexar lưu dữ liệu camera hành trình của xe ô tô BKS 90C-146.19, xác định từ thời điểm hiển thị lúc 21 giờ 36 phút 19 giây ngày 29/7/2025: Xe ô tô di chuyển trên đường Đ theo hướng từ cầu L đi siêu thị G. Giây thứ 14, xe ô tô đi đến ngã tư, chuyển hướng rẽ trái hướng về phía đường phố Hoàng Thế T1, đèn tín hiệu giao thông phía đường Đ vẫn đang hiển thị màu xanh. Khi xe ô tô vào ngã tư, đèn tín hiệu trên đường Đ chuyển màu vàng, hướng bên phía đường H đèn tín hiệu giao thông hiển thị màu đỏ. Giây thứ 17, trên đường Đ ở chiều đường S đi cầu L xuất hiện một xe mô tô đi hướng về phía xe ô tô có gắn camera hành trình. Giây thứ 18, xe mô tô do nam thanh niên điều khiển đâm vào phần đầu xe bên phải của xe ô tô có gắn camera, người điều khiển xe mô tô bị đập vào cabo phía bên phải, đập vùng mặt vào kính chắn gió phía trước, hai tay giơ qua đầu hướng về phía cầu L. Giây thứ 33 xe ô tô dừng lại.

Tại bản Cáo trạng số 207/CT-VKS-KV5 ngày 10/4/2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình truy tố Trần Tuấn D về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân khu vực 5 - Ninh Bình giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản Cáo trạng, không thay đổi, bổ sung gì. Đề nghị Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX):

+ Tuyên bố bị cáo Trần Tuấn D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

+ Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 50 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Tuấn D 03 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm.

+ Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

+ Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Trả lại bị cáo Trần Tuấn D 01 giấy phép lái xe hạng B1 mang tên Trần Tuấn D; Tiếp tục lưu trong hồ sơ vụ án 01 thẻ nhớ màu xanh - đen ghi chữ Lexar.

+ Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

- Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, bị cáo không có ý kiến tranh luận, bào chữa gì. Đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối với người tham gia tố tụng là đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai và quan điểm của họ, được cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do vậy HĐXX vẫn tiến hành xét xử theo quy định của pháp luật.

Về tội danh: Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình đã nêu. Lời khai của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông đường bộ, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường, biên bản khai thác video, bản kết luận giám định tử thi qua hồ sơ, bản kết luận định giá tài sản của cơ quan chuyên môn, lời khai của đại diện bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 29/7/2025, Trần Tuấn D có Giấy phép lái xe ô tô hạng B1, cơ thể có nồng độ cồn trong máu là 0,300mg/L, điều khiển xe ô tô BKS 90C-146.19 đi trên đường Đ theo hướng cầu L đi siêu thị G. Đến ngã tư giao với phố L và phố Hoàng Thế T1 thuộc tổ dân phố H, phường H, tỉnh Ninh Bình là nơi giao nhau không có vòng xuyến, khi điều khiển xe ô tô rẽ trái để đi vào phố H, D đã không nhường đường cho xe mô tô BKS 90B2-722.40 do anh Nguyễn Hoàng Nhật M điều khiển đi ngược chiều, dẫn đến phần đầu bên phải xe ô tô BKS 90C-146.19 va chạm với đầu xe mô tô BKS 90B2-722.40 làm anh M bị hất lên nắp ca bô và đập phần đầu vào kính chắn gió phía trước của xe ô tô rồi rơi xuống đường. Hậu quả, anh M bị thương được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ1, đến ngày 13/8/2025 thì tử vong, xe mô tô bị hư hỏng thiệt hại 3.340.000 đồng. Hành vi nêu trên của Trần Tuấn D đã vi phạm khoản 2 Điều 9, khoản 3 Điều 15 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ, gây tai nạn giao thông làm chết một người, đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Điều 260 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;

…

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) …

b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định …”

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình truy tố đối với Trần Tuấn D là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi vụ tai nạn xảy ra bị cáo và gia đình đã bồi thường cho gia đình bị hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại cũng có lỗi, đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, gia đình bị cáo đang thờ cúng Liệt sỹ nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

Về hình phạt:

- Về hình phạt chính: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm các nguyên tắc và quy định về an toàn khi tham gia giao thông, gây thiệt hại về tính mạng và tài sản của người khác, gây tổn thất về tinh thần cho gia đình bị hại, làm mất trật tự trị an, ảnh hưởng xấu tới tình hình trật tự an toàn giao thông tại địa bàn xảy ra tai nạn. Do đó, cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo, song xét bị cáo thành khẩn khai báo, lần đầu phạm tội, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát của chính quyền địa phương nơi cư trú cũng đủ tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

- Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không hành nghề lái xe nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và gia đình đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 350.000.000đ (ba trăm năm mươi triệu đồng). Đại diện gia đình bị hại là bà Nguyễn Thị Thanh T và anh Nguyễn Minh H đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu đề nghị gì khác về dân sự nên HĐXX không xem xét.

Về xử lý vật chứng, tài sản đã thu giữ:

- Đối với xe ôtô BKS 90C-146.19; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường xe cơ giới; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô; 01 Giấy biên nhận thế chấp và bản sao chứng nhận đăng ký xe ô tô số 90 005446 của ngân hàng N1- Chi nhánh L, P1 là tài sản hợp pháp của Trần Tuấn D, Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh N đã trả lại cho D là phù hợp với quy định pháp luật.

- Đối với 01 xe môtô tô BKS 90B2-722.40 là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Hoàng Nhật M. Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh N đã trả lại cho anh Nguyễn Minh H (là anh trai anh M) là phù hợp với quy định pháp luật.

- Đối với 01 thẻ nhớ màu xanh-đen ghi chữ Lexar lưu giữ đoạn video vụ tai nạn giao thông nên cần tiếp tục lưu trong hồ sơ vụ án.

- Đối với 01 giấy phép lái xe hạng B1 mang tên Trần Tuấn D là giấy tờ hợp pháp của D không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho bị cáo là phù hợp với pháp luật.

Tình tiết khác: Đối với Nguyễn Hoàng Nhật M: Ngày 29/7/2025, M điều khiển xe mô tô BKS 90B2-722.40 đi trên đường Đ theo hướng siêu thị G, khi đến ngã tư giao giữa đường Đ với phố Lương Văn C và phố Hoàng Thế T1 là nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường bộ đã không giảm tốc độ hoặc dừng lại để đảm bảo an toàn đã vi phạm điểm d khoản 3 Điều 12 Luật trật tự an toàn giao thông đường bộ, làm xe ô tô BKS 90C-146.19 của Trần Tuấn D bị hư hỏng, thiệt hại 15.710.000 đồng. Tuy nhiên, Nguyễn Hoàng Nhật M đã tử vong nên không xem xét xử lý là phù hợp.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điểm b khoản 2 Điều 260, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 50, Điều 47 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ các Điều 106, 136, 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và danh mục án phí lệ phí Tòa án (ban hành kèm theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016).

1/ Tuyên bố bị cáo Trần Tuấn D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2/ Xử phạt bị cáo Trần Tuấn D 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm. Thời gian được tính kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 28 tháng 4 năm 2026).

Giao bị cáo Trần Tuấn D cho Ủy ban nhân dân phường P, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3/ Về xử lý vật chứng: Trả lại bị cáo Trần Tuấn D 01 giấy phép lái xe hạng B1 số 350161002662 do Sở Giao thông vận tải tỉnh N cấp ngày 10/11/2022 mang tên Trần Tuấn D, có giá trị đến ngày 11/11/2056.

(Tình trạng vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/4/2026 giữa Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh N với phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 - Ninh Bình).

4/ Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Trần Tuấn D phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ