vanban.org

Bản án 122/2026/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hải Phòng Tuyên án 07/05/2026 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 07/05/2026 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về án phí: Căn cứ vào Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo Mạc Đức H không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mạc Đức H - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về án phí: Căn cứ vào Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo Mạc Đức H không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 122/2026/HS-PT
Ngày 07-5-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Quang Kiên.

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Hồng Giang;

Ông Nguyễn Xuân Trường.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bế Thị Na - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Đinh Thu Thuỷ - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 5 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng, tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 29/2026/TLPT-HS, ngày 10 tháng 02 năm 2026, đối với bị cáo Mạc Đức H; do có kháng cáo của bị cáo Mạc Đức H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2026/HS-ST, ngày 05 tháng 01 năm 2026, của Tòa án nhân dân Khu vực 9 - Hải Phòng.

- Bị cáo: Mạc Đức H, sinh năm 2002 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Số nhà D, đường T, phường C, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mạc Văn T (đã chết) và bà Nghiêm Thị H1; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 19/8/2025, đến ngày 25/8/2025 chuyển tạm giam; có mặt.

- Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị Ngọc A, chị Bùi Thị Ngọc Á, chị Nguyễn Thị Thúy N, chị Phạm Thị H2, anh Bùi Bá D và anh Trần Mạnh C; đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Mạc Đức H là người sử dụng ma túy loại Ketamine. H có biết một người phụ nữ tên là L ở thành phố H cũ (không biết họ tên, địa chỉ cụ thể) có ma túy loại Ketamine bán. Khoảng tháng 4/2025 H gặp L ở thành phố H, hỏi mua của L một chỉ Ketamine, L đồng ý bán với giá 1.500.000 đồng. H đưa cho L số tiền 1.500.000 đồng. L cầm tiền rồi bảo H đứng chờ, sau đó L quay lại chỉ cho H ra vị trí cột điện ở khu vực đường Q, thành phố H để lấy ma túy. H đến vị trí cột điện thấy một túi nilon màu trắng có khóa dạng nhựa bấm, bên trong có chứa tinh thể màu trắng dạng cục, H xác định là ma túy Ketamine nên cầm cất vào trong cốp xe máy BKS 34C1-552.65. Sau khi mua được ma tuý, do gia đình có việc nên H chưa sử dụng. Tối ngày 19/8/2025 H đi xe máy BKS 34C1-552.65 cùng chị Ngọc A đến quán V, địa chỉ: Tổ dân phố T, phường L, thành phố Hải Phòng để tổ chức ăn sinh nhật cháu L1 (con gái của chị Ngọc A). Cùng dự sinh nhật còn có một số bạn bè của chị Ngọc A. Trong lúc ăn uống, H đã vào nhà vệ sinh của quán ăn, lấy một phần ma túy loại Ketamine từ túi ma túy đã mua được trước đó ra sử dụng. Sau khi sử dụng xong, H tiếp tục ra ăn uống cùng mọi người. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày thì cả nhóm ra về. Quan sát không có ai nên H cất túi nilon chứa ma tuý sử dụng chưa hết trong cốp xe máy BKS 34C1-552.65, sau đó điều khiển xe chở chị Ngọc A và con gái về nhà, trên đường về H dừng xe để chị Ngọc A vào cửa hàng T2 trên Quốc lộ C thuộc địa phận tổ dân phố K Trên, phường L, thành phố Hải Phòng thì bị lực lượng Công an phường L phát hiện, bắt quả tang H cất giấu tại cốp xe máy BKS 34C1-552.65 túi nilon màu trắng có khóa bấm bằng nhựa kích thước 3x2cm bên trong có chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M). H khai nhận là ma túy loại Ketamine cất giấu để sử dụng cho bản thân.

Tại Kết luận giám định số 787/KL-KTHS, ngày 22/8/2025 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận: Chất tinh thể màu trắng trong túi nilon màu trắng của mẫu (ký hiệu M) gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,67gam, loại Ketamine.

Tại Kết luận giám định độc chất số 671/965/25/KLGĐĐC-PYQG, ngày 29/8/2025 của V1 giám định chất ma túy trong nước tiểu thu của Mạc Đức H kết luận: Có tìm thấy Ketamine.

Về vật chứng:

+ 0,563g ma túy loại Ketamine và 01 vỏ bao gói mẫu M được đựng trong 01 phong bì niêm phong mặt trước ghi “Công an T, Phòng K số 787MT/PC09” là mẫu vật hoàn lại sau giám định, ngày 23/8/2025 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 16 lắp sim số 0949.922.555 được niêm phong trong phong bì thư có dấu của Phòng K - Công an thành phố H, ngày 13/11/2025. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an thành phố H đã nhập kho vật chứng và chuyển đến cơ quan thi hành án dân sự chờ xử lý.

+ Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Vision màu sơn xám đen, BKS 34C1-552.65, quá trình điều tra xác định xe đăng ký tên bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1985, trú tại: Tổ dân phố B, phường T, Hải Phòng, bà T1 giao cho chị Nguyễn Thị Ngọc A quản lý, sử dụng. Khi cho H mượn xe mô tô để sử dụng, chị Ngọc A không biết việc H cất giấu ma túy trong cốp xe, ngày 11/11/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại xe cho bà T1.

+ Đối với các đồ vật, tài sản quản lý trong cốp xe mô tô BKS 34C1-552.65 gồm: 01 kính gọng nhựa màu đen, 01 mũ lưỡi trai màu nâu đen, 01 biên lai kính mắt Hà Nội, 01 chiếc ví màu đen, bên trong có số tiền 1.165.000 đồng, 01 căn cước công dân mang tên Mạc Đức H, 01 thẻ học viên tập lái xe, 01 áo khoác nỉ màu xám, 01 áo mưa màu xanh, 01 lọ thuốc Bi-Q10 Max đã sử dụng bên trong có các viên thuốc dạng viên con nhộng màu đỏ, 01 túi khẩu trang màu đen, là những đồ vật, tài sản cá nhân của H, không liên quan đến vụ án, ngày 23/8/2025 Cơ quan điều tra đã trả lại cho H.

Với nội dung trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2026/HS-ST, ngày 05/01/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 9 - Hải Phòng đã quyết định: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Mạc Đức H 03 (Ba) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 19/8/2025.

Ngoài ra Bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 06/01/2026 bị cáo Mạc Đức H có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Mạc Đức H giữ nguyên kháng cáo.

Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm: Bản án sơ thẩm xét xử bị cáo Mạc Đức H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, theo khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của bị cáo: Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, đánh giá về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo để xử phạt bị cáo mức hình phạt 03 (Ba) năm tù là có căn cứ. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Ngày 05/01/2026 Tòa án nhân dân Khu vực 9 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm; đến ngày 06/01/2026 bị cáo đã có đơn kháng cáo là vẫn trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về tội danh: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Mạc Đức H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, theo quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là đúng với hành vi của bị cáo. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo không kháng cáo về tội danh, mà chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ về hình phạt.

Xét kháng cáo của bị cáo: Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo để xử phạt bị cáo 03 năm tù là thỏa đáng.

Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, gia đình bị cáo có giao nộp Đơn xin giảm án có xác nhận của UBND phường C, thành phố Hải Phòng, trình bày về việc bị cáo H có hoàn cảnh gia đình rất khó khăn; bố mất sớm, mẹ bỏ đi không rõ địa chỉ; bị cáo sống cùng bà nội đã cao tuổi và hay đau yếu. Bị cáo có nhân thân tốt và có nhiều đóng góp trong các hoạt động xã hội tại địa phương nơi cư trú ... Do vậy cần xem xét để giảm nhẹ một phần về hình phạt cho bị cáo; xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là thoả đáng. Hội đồng xét xử thấy có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị cáo và sửa Bản án sơ thẩm.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Mạc Đức H và sửa Bản án sơ thẩm.

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự; tuyên bố bị cáo Mạc Đức H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; xử phạt bị cáo Mạc Đức H 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 19/8/2025).

2. Về án phí: Căn cứ vào Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo Mạc Đức H không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ