vanban.org

Bản án 122/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trương Thị H được ly hôn với anh Lê Tuấn A.

Về nuôi con chung: 1. Giao cho chị Trương Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục hai con chung của chị H và anh Tuấn A là Lê Ngọc H1, sinh ngày 12/01/2018 và Lê Băng K, sinh ngày 01/10/2020, đến lúc con chung đủ 18 tuổi trưởng thành. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trương Thị H được ly hôn với anh Lê Tuấn A.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 - NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 122/2026/HNGĐ - ST
Ngày: 03-9-2026
“V/v: Ly hôn, nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Diên.

Các Hội thẩm nhân dân :

1. Bà Phan Thị Hương Thanh.

2. Ông Nguyễn Sỹ Nghị.

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Bích - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 - Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Lữ Trường Giang - Kiểm sát viên.

Trong ngày 03 tháng 9 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 - Nghệ An mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 225/2026/TLST-HNGĐ, ngày 01 tháng 6 năm 2026, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 112/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 7 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 94/2026/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2026, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trương Thị H, sinh năm 1999.

Số CCCD: 040199019986.

Nơi cư trú: Xóm H, xã N, tỉnh Nghệ An (có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Lê Tuấn A, sinh năm 1994

Số CCCD: 040094019008.

Nơi cư trú: Xóm H, xã N, tỉnh Nghệ An (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 03/3/2026 cũng như trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trương Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị H và anh Lê Tuấn A có đăng ký kết hôn vào ngày 24 tháng 4 năm 2017 tại UBND xã N, huyện N (nay là UBND xã N), tỉnh Nghệ An. Hôn nhân được xác lập trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, chị và anh Lê Tuấn A chung sống hạnh phúc được thời gian đầu. Sau đó cuộc sống vợ chồng bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính cách của hai vợ chồng không thể hòa hợp, không có tiếng nói chung. Mặc dù mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình hòa giải nhiều lần nhưng đều không có kết quả. Do đó vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2024 cho đến nay. Từ khi sống ly thân đến nay vợ chồng không còn ai quan tâm chăm sóc nhau nữa. Hiện nay chị không còn tình cảm với Anh Lê Tuấn A nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Tuấn A.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Lê Ngọc H1, sinh ngày 12/01/2018 và Lê Băng K, sinh ngày 01/10/2020. Nếu ly hôn, chị có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng đến lúc con chung trưởng thành.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Trương Thị H không yêu cầu anh Lê Tuấn A cấp dưỡng nuôi con chung.

Về chia tài sản chung: Vợ chồng chị không có tài sản chung, không cho ai vay, không vay của ai tài sản gì nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Đối với bị đơn anh Lê Tuấn A: Quá trình giải quyết vụ án, anh Lê Tuấn A đi làm ăn xa nhưng thường xuyên đi về tại địa phương. Do đó Tòa án đã niêm yết các văn văn tố tụng cho anh Tuấn A theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Nghệ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký: Từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, Thư ký đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Việc thu thập chứng cứ, tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Đúng thành phần, đúng quy định từ khi mở phiên toà cho đến khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án.

Về việc tuân theo pháp luật của đương sự: Nguyên đơn chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật; bị đơn không chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật, không có mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Trương Thị H được ly hôn với anh Lê Tuấn A.

Về nuôi con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao cho chị Trương Thị H được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục hai con chung của chị H và anh Tuấn A đến lúc hai con chung đủ 18 tuổi trưởng thành.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Trương Thị H không yêu cầu anh Lê Tuấn A cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về chia tài sản chung: Chị H không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn xét.

Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc chị Trương Thị H phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Về thẩm quyền: Chị Trương Thị H yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 8

- Nghệ An giải quyết ly hôn với anh Lê Tuấn A có hộ khẩu thường trú tại xóm M (nay là xóm H), xã N, tỉnh Nghệ An. Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Nghệ An.

Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Trương Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Lê Tuấn A đã được Toà án triệu phiên toà hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó căn cứ khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Về nội dung:

2.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị H và anh Lê Tuấn A có đăng ký kết hôn vào ngày 24 tháng 4 năm 2017 tại UBND xã N, huyện N (nay là UBND xã N), tỉnh Nghệ An. Hôn nhân được xác lập trên cơ sở tự nguyện, đảm bảo các điều kiện kết hôn. Do đó hôn nhân giữa chị H và anh Tuấn A là hợp pháp.

Về nguyên nhân mâu thuẫn: Theo chị H nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính cách của hai vợ chồng không hòa hợp, không có tiếng nói chung. Mặc dù mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình hòa giải nhiều lần nhưng đều không có kết quả. Do đó vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2024 cho đến nay. Từ khi sống ly thân đến nay vợ chồng không còn ai quan tâm chăm sóc nhau nữa. Sau khi thụ lý vụ án Toà án đã thông báo, triệu tập, niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ cho anh Tuấn A nhưng anh Tuấn A đều vắng mặt không có lý do. Điều đó chứng tỏ anh Tuấn A không mong muốn tìm giải pháp để hàn gắn tình trạng mâu thuẫn của vợ chồng. Mặt khác qua xác minh tại địa phương xác định trong quá trình chung sống thì chị H, anh Tuấn A có xảy ra mâu thuẫn. Tuy nhiên nguyên nhân mâu thuẫn thế nào thì Ban cán sự xóm không nắm được và hiện tại anh Tuấn A đi làm ăn xa nhưng thường xuyên đi về tại địa phương

Xét mâu thuẫn giữa chị H và anh Tuấn A đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cho chị H được ly hôn với anh Tuấn A như lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Nghệ An là có căn cứ.

2.2. Về nuôi con chung: Chị H và anh Tuấn A có 02 con chung là Lê Ngọc H1, sinh ngày 12/01/2018 và Lê Băng K, sinh ngày 01/10/2020, không ai có con riêng, không nuôi con nuôi. Nếu ly hôn, chị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 02 con chung đến lúc con chung trưởng thành và không yêu cầu anh Lê Tuấn A cấp dưỡng nuôi con, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Chị Trương Thị H làm nghề lao động tự do, đảm bảo thu nhập, điều kiện ăn ở, sinh hoạt để trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung. Mặt khác từ khi ly thân cho đến nay thì chị H là người trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung. Đồng thời hai con chung cũng có nguyện vọng được ở với chị H. Qua xác minh tại địa phương xác định trong quá trình chung sống không ai có hành vi đánh đập, ngược đãi con chung. Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, anh Tuấn A đều vắng mặt không có lý do. Do đó để tạo mọi điều kiện tốt nhất cho hai con chung của chị H và anh Tuấn A được phát triển toàn diện về thể chất lẫn tinh thần, đảm bảo quyền và lợi ích mọi mặt của con chưa thành niên khi chị H và anh Tuấn A ly hôn, cần giao 02 con chung là Lê Ngọc H1, sinh ngày 12/01/2018 và Lê Băng K, sinh ngày 01/10/2020 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục theo quy định tại các Điều 58, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Trương Thị H không yêu cầu anh Lê Tuấn A cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

2.3. Về chia tài sản: chị Trương Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử miễn xét.

Về án phí: Buộc chị Trương Thị H phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 238 và các Điều 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trương Thị H được ly hôn với anh Lê Tuấn A.

2. Về nuôi con chung:

2.1. Giao cho chị Trương Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục hai con chung của chị H và anh Tuấn A là Lê Ngọc H1, sinh ngày 12/01/2018 và Lê Băng K, sinh ngày 01/10/2020, đến lúc con chung đủ 18 tuổi trưởng thành.

2.2. Chị H không yêu cầu anh Tuấn A cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

2.3. Sau ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cảm trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

3. Về chia tài sản: Chị Trương Thị H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí: Chị Trương Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) mà chị H đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0004026 ngày 28/5/2026, tại Thi hành án dân sự tỉnh N (chị H đã nộp đủ tiền án phí).

5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ